Mở trang Dầu Tiếng ra, thấy mình gởi nhiều bài quá, tôi cũng đâm ra ngượng với chính mình. Sợ rằng người ta nói rằng mình viết chẳng ra chi mà cứ viết hoài, nhưng trộm nghĩ Đức Khổng Phu Tử có câu:
-Hát hay không bằng hay hát!! (Có thiệt là của Khổng Tử không đó cha??)
Thì nay đành chữa mình như vầy:
-Viết hay không bằng hay viết!!
Mà quả thực vậy, nếu quí vị đồng hương mở máy lên coi, mà năm thì mười hoạ mới có một bài viết mới thì thất vọng biết bao, nhứt là tôi lại khoái viết chuyện về quê hương thì đâu cần chuốt câu văn cho láng làm chi, chỉ nghĩ sao viết vậy mà thôi, để bà con có bài mới mà đọc chơi.
Thú thực tôi viết mau lắm, chẳng dàn bài, nhập đề, kết luận chi hết, viết cứ như kể chuyện mà thôi, thế thì tại sao lại không ngứa mép kể chuyện quê xưa chớ.
Hôm nay tôi xin kể cho quí bạn nghe về Nấm Mối, một thực phẩm thơm ngon ở trong rừng cao su mỗi mùa mưa tới là đùn đất mọc lên.
Nếu ở ngoài chợ thì các bạn chỉ nhìn thấy nó khi người dân trong làng đem ra bán, hay má mình mua về xào nấu lúc mình còn đang ngồi trong lớp, về học hửi thấy mùi thơm lừng, bụng đói cồn cào hỏi liền thì má nói hôm nay có món mướp xào nấm mối.
Ở trong lô cao su thỉnh thoảng gò mối đùn lên lớn như cái mả, đi ngang lúc gần tối nhờn nhợn sợ ma thấy mồ. Người ta thường lấy cuốc chim đào vô gò mối, nạy ra vài cục lớn như cái thúng, ràng lên xe đạp chở về mà nuôi gà hay vịt con. Mỗi bữa dùng rựa hay búa bửa củi mà chặt tổ mối ra thành mấy miếng nhỏ bằng cái chén, đập vô nhau cạch cạch cho những con mối no tròn trắng như sữa rớt xuống đất, làm mồi cho gà vịt ăn. Vì chúng nhiều chất bổ lắm nên gà vịt ăn vô rất mau lớn.
Lúc đào vô giữa ổ mối, đôi khi ta bắt được một con chúa mối lớn như cẳng cái, trắng bóc và béo ú nu ú nần, đem về thả vô chén nước mắm cho nó uống no, rồi đem chiên hay nướng vàng ăn đều ngon cả.
Mỗi ổ mối chỉ có độc nhứt một con chúa mối mà thôi, con này y hệt ong chúa vậy, nó chỉ ăn rồi đẻ, mà nếu nó chết thì ổ mối sẽ tàn theo. Như vậy nếu mình đào bắt mối chúa đi rồi, thì thần dân của nó cũng dần dần chết hết và vì không còn thần dân thay thế nên ổ mối sẽ thành nhà hoang, tàn tạ rồi mục rã theo năm tháng.
Năm ba năm sau, nấm mối sẽ từ gò mối mục này mà mọc lên.
Tháng tư mưa ầm ì đi kèm theo sấm sét, gió lốc quật cành cao su ngã rạp có khi gẫy gập từng luống mấy trăm cây, nước tuôn tràn làm đám lá khô rụng dầy cả tấc từ mùa đông trước dính bẹt vào nhau, và nếu thấy đám lá nào bị đội lên cao bất thường, hãy bới ra thì chắc chắn là có hàng hàng lớp lớp nấm mối đang nhú lên, có khi nhổ một đám mà được mấy thúng.
Cây nấm mối lớn hơn cây nấm rơm rất nhiều, có cái nở xoè ra lớn như bàn tay người ta, nhưng khi nở ra rồi thì ăn không ngon bằng khi nó còn mum múp, mà nếu đã nở ra vài ngày, thì hương thơm của nó sẽ hấp dẫn ruồi lằn, bay đến đẻ trứng vào phía dưới nảy sinh dòi tửa coi ghê lắm.
Hồi tháng bảy năm vừa qua, trở về làng Năm thăm quê thì chị dâu tôi và mấy đứa cháu đãi món bánh xèo nhân nấm rơm thơm lừng, nhưng sao loại nấm này nhỏ và dài quá, không giống như nấm ngày xưa tôi đi hái, không biết đây có phải là loại họ trồng công nghiệp hay không.
Trước khi vào làng, chúng tôi dừng xe lại chỗ chợ sát ven đường, mua được một con cá trắm gần 10kg, nhờ người bán cá làm sạch sẽ rồi xách vô nhà chị tôi mà hấp với kim chi nấm mèo và bún Tàu. Thiệt cả gần hai chục người mà vì đã có bánh xèo rồi nên khi món cá đem ra ăn không hết một nửa.
Hồi xưa khi cây cao su bị bão làm ngã gục, cành cây gẫy thì dân chúng lấy về làm củi, thân cây to lớn vẫn nằm đó tháng này qua năm khác nên phía dưới ẩm ướt nấm mèo mọc lên từng đám, người ta ăn nấm tươi không hết thì phơi khô để dành. Bây giờ trong lô cao su sạch bách, mỗi khi cây đổ dù nhiều hay ít thì có xe chuyên dụng của sở vô cắt gọn, cành nhỏ thì xay ra làm ván mạt cưa, thân cây thì đem về nhà máy cưa vòng thành từng lớp mỏng mà dán lại như ván ép, mà ván này mắc hơn ván thông rất nhiều.
Gỗ cao su màu trắng có vân rất đẹp, nếu không có kỹ thuật tân tiến ép nước, dán keo thì nó mềm không sử dụng để làm bàn ghế giường tủ được.
Tôi còn nhớ ngày còn nhỏ thấy những lô cao su già không còn năng xuất, thì hãng Michelin dùng hai xe máy kéo lớn, ràng nhau bằng một sợi xích sắt rồi chạy hai bên hàng cây cao su to lớn, chúng bị kéo bật gốc đổ chồng lên nhau. Mấy tháng sau họ đốt hết cây khô mà trồng cao su non, còn bây giờ người ta tận dụng cả rễ nó xay ra làm gỗ. Điều này rất tốt vì rừng VN đã bị tàn phá quá nhiều, đừng nói chi đến gỗ để làm nhà cửa hay bàn ghế, chỉ lượng bột giấy in báo thôi thì mỗi năm bao nhiêu mẫu rừng đã bị phá huỷ (?)
Bây giờ trở lại cây nấm mối. Nếu hái được nhiều thì không nói làm chi, còn nếu ít thì xào với mướp, hay tuyệt nhất là xào với bông mướp. Bông mướp không mọc từng cái như bông bí, bông bầu mà mọc thành chùm có tới vài chục nụ, mỗi ngày nó nở một bông (Đến đây tôi nhớ câu thơ: Giàn mướp hoa vàng thương nhớ anh). Bông mướp xào ngoài sự bùi, ngọt ra nó còn có mùi hương rất thơm.
Mấy đứa con gái chơi nhà chòi mà lấy mấy cây nấm mối, rửa sạch, gói trong lá mướp rồi bỏ chút mỡ hành muối tiêu vô, gói lại rồi đem nướng thì mấy đứa con trai đang đánh khăng, đá dế gì gần đó cũng theo hương thơm mà lần tới xin ăn chực, dù chỉ được một miếng nhỏ mà thôi.
Còn có một loài y hệt cây nấm mối, nhưng không mọc thành từng đám mà chỉ đơn lẻ từng cái gọi là nấm mồ côi, người nào không biết nhổ lên để xào hay nấu cháo thì nó vẫn thơm ngon như nấm mối, nhưng ăn vào chừng 10 phút sẽ nhức đầu chóng mặt, sau đó là "thượng thổ hạ tả" nếu không được giải độc kịp thời thì thường đi đến tử vong.
Người Lào khi định cư ở vùng rừng núi Cali hay Oregon thường đi hái nấm về ăn, họ cũng đã từng được "lên TV" vì ngộ độc do nấm. Khi được phóng viên hỏi sao dám ăn, thì họ nói đã thả nấm vô nước vo gạo mà nước không biến thành màu vàng nên biết là nó không có độc tố!
Qua Mỹ rồi, nấm đủ loại bán đầy ngoài chợ, sạch sẽ trắng bóc mà sao tôi không thấy chúng có hương thơm gì hết, ăn không ngon như những cây nấm của quê xưa (?)
Saturday, July 25, 2009
San Jose đi dễ khó về
Cách đây hơn bốn năm, tôi đến San Jose để làm việc một tháng. Bây giờ “Đến hẹn lại lên.” Mà ở đây tôi đang rảnh, thế mà cũng chỉ một tháng là vội trốn về.
San Jose với đường xá mở rộng thêm nhiều, nhưng xe cộ vẫn kẹt cứng. Những khu kỹ nghệ to lớn với parking đậu đầy xe loại mắc tiền; Ánh đèn ở những khu thương mại chói chang, xứng danh là thung lũng điện tử nổi danh trên toàn thế giới. Ấy vậy mà bên cạnh những cao ốc, vẫn còn rất nhiều đất để hoang, có hoa vàng nở rộ và hai bên xa lộ, đôi khi ta còn bắt gặp vài chú nai đi ngơ ngác, nhất là đi lên hướng Saratoga, highway 9. Cảnh trí nơi này không khác gi` Đà lạt, với núi đèo, thác suối. Tiếng lá reo hoà với tiếng suối róc rách, làm cho ta ngỡ rằng đã lạc vào chốn thiên thai.
Có lẽ vi` không một ai than phiền với sở Animal Control, nên tuy là một thành phố lớn, nhưng nửa đêm về sáng, người ta vẫn nghe thấy tiếng gà eo óc gáy. Tôi phần thi` nhớ nhà, phần thi` bị bệnh mất ngủ, lại càng không ngủ được. Cảnh thổ ở bên quê nhà cứ lởn vởn trong trí, với bờ ao ruộng lúa. Mỗi lần nghe tiếng gà gáy, tôi lại nhớ bài thơ Nắng Mới của Lưu Trọng Lư:
Mỗi lần nắng mới hắt ven song
Xao xác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không
Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước dậu phơi
Hi`nh bóng mẹ tôi chửa xóa mờ
Vẫn co`n mường tượng lúc vào ra
Nụ cười đen nhánh sau tay áo
Trong nắng trưa hè trước dậu thưa.
Mẹ tôi co`n sống, mà mỗi lần đọc bài thơ này là tôi muốn sa nước mắt, tôi thương cảm giùm những người mất mẹ.
Rất may cho tôi là lần này lên làm việc đúng vào dịp hãng có vài công việc được trả tiền theo đầu người, nghĩa là làm việc tà tà, không chuyên môn cũng được (Những công nhân này được gọi là Cà Đơ). Dân Cà Đơ không lái được xe Heavy equipment, không biết chạy dây điện, cũng được trả ba bốn chục đồng. Tôi cũng thuộc diện Cà Đơ, nhưng may quá, được trả tới năm chục một giờ, nên khi cầm tấm check, thấy nặng trĩu cả hai tay. Lần này, tôi cũng có dịp đi làm chung với nhạc sĩ Trần Chí Phúc. Không biết nhạc của anh ta hay tới đâu, nhưng giọng ngâm thơ của anh vang lên, lẫn trong tiếng suối nơi Highway 9, đã làm ruột gan tim phổi tôi lộn tùng phèo.
V... em như cái chũm cau
Cho anh bóp cái, có đau anh đền.
Nơi đây, phiá Tây Bắc San Jose, giữa rừng thông cao vút, có con đường nhỏ dẫn vào một trang trại trồng nho, mà những gốc nho già gần hai trăm tuổi, lớn bằng bắp vế, có cơ sở làm rượu Savanah Winery và Tasting room. Lúc chúng tôi vào pho`ng nếm rượu, đã có dăm ba người Mỹ đang uống rượu trong những ly chân cao. Người phụ nữ rót rượu tươi cười giải thích từng màu sắc của từng ly rượu và nói rằng mỗi người khách phải trả bảy đô la. Chúng tôi đồng y’ và sau khi uống đến ly thứ ba là đã thấy chếnh choáng. Rượu vang tuy coi vậy, nhưng độ rượu cũng mạnh ra gi`.
Không biết là tại vi` thấy chúng tôi mặc áo màu vàng của công nhân ngoài freeway trông hem hễ quá, hay tại nhi`n thấy ông Chí Phúc và tôi đẹp trai quá, mà cô bán rượu, sau cùng không tính tiền. (Vi` đi chung với ông Chí Phúc, nên bạn bè gọi tôi là Chí Phèo ). Số tiền rượu không phải trả, nếu đem mua bia, thi` cả bọn uống cả tuần không hết.
Một hôm ủi đất kế bên mương nước, tôi bị giật mi`nh vi` con vịt trời vụt bay lên, khi nhi`n trong đám cỏ có ổ trứng 12 cái. Tôi cũng chẳng muốn lấy trứng làm gi`, nhưng nếu không dẹp ổ vịt qua một bên, thi` không có chỗ mà làm. Hai con vịt cứ bơi qua, lội lại trên mương nước nên chúng tôi bảo nhau :
- Nếu không sợ bị phạt 500 đô, tụi mi`nh vơ hai con vịt này về thi` tối nay có tiết canh.
Ngồi nhi`n hai con vịt, tôi lại nhớ tới ngày còn nhỏ (tôi có cái tật hay nhớ như vậy), ngồi làm vịt ở cầu ao, lúc làm bộ lo`ng, vi` tính hay lơ đãng nên đàn cá lo`ng tong bu lại rỉa gần hết tôi mới nhớ ra, tức nổi xung lên, tôi cằm con dao phay chặt đại xuống mặt nước mấy phát, cả chục con cá đứt đôi nổi phều lên mặt nước. Cho đáng đời, ai biểu mày rỉa!
Hồi co`n ở Orange County, có những cuối tuần tôi không biết đi đâu, làm gi` cho qua ngày, nhưng những cuối tuần ở San Jose lại qua mau quá. Có lần, tôi được rủ đi đào ốc vo`i voi ngoài cồn cát ở vùng vịnh San Fancisco.
Sáng thứ bảy, đoàn xe ba bốn chiếc nối đuôi nhau chạy lên hướng bắc. Tôi đi chiếc Ford F150 có kéo theo chiếc canô. Từ San Jose đến San Fancisco cũng hơn một tiếng đồng hồ. Xe rời freeway để theo đường nhỏ ngoằn ngoèo qua những nông trại nuôi trừu. Những trảng cỏ non bên sườn núi xanh như ruộng mạ, có vài ba con nai đứng ngơ ngác hiền lành.
Đến bờ biển, những người trong bọn chúng tôi chưa có license câu cá thi` phải mua, tốn hơn mười đồng cho hai ngày. Khi cho tàu xuống bến rồi, chúng tôi phải chia ra làm ba toán để ra đảo cát mới đủ chỗ, vi` tàu nhỏ. Chiếc tàu chạy nhanh quá, nó phóng như bay trên mặt nước, chỉ 15 phút đã ra đến nơi. Anh trưởng đoàn giải thích :
- Ốc vo`i voi, co`n gọi là hến, là sò. Tiếng Mỹ gọi là Horse neck clam, mỗi con nặng hơn hai pound, có vo`i lớn bằng nửa cổ tay và dài gần một gang. Nó nằm sâu dưới cát khoảng gần một thước Tây, cứ chỗ nào có cái lỗ cỡ bằng ngón tay, phọt nước ra, thi` chắc chắn dưới đó có con hến... (Có tiếng cười khúc khích). Mỗi người được bắt mười con một ngày, nhưng chúng ta mà bắt được năm con là đã khá lắm rồi, vi` mỗi con ngoài chợ bán cũng gần hai mươi đô la.
Chúng tôi tản ra theo bốn toán, mỗi toán có một cái ống nhựa cứng, đường kính khoảng hai gang tay, và dài gần một thước, có hai dây quai để dễ kéo lên, trang bị thêm hai chiếc xẻng cán dài và mấy chiếc thùng đựng.
Mỗi lần có bước chân động trên mặt cát, là những vo`i nước lại phụt lên, lỗ hến đầy dẫy không thể đếm xuể.
Cồn cát này chi`m dưới mặt nước cả năm, chỉ trong mấy tháng hè mới lộ ra vào những ngày con nước nhỏ, mà cũng chỉ trong mấy giờ mà thôi. Lúc nước triều lên, có nhiều người vi` mải mê với so`, với hến,vô bờ không kịp nên xuýt chết vi` nước. (Nhưng không được gọi là hy sinh vi` tổ quốc).
Đào so` là cả một nghệ thuật: Nhắm ngay cái lỗ, đào chừng vài ba xẻng cát, để cái ống vào rồi nhảy lên trên miệng ống mà nhún nhảy, để cho ống cắm sâu xuống cát. Tại sao lại phải dùng ống như vậy ? Bởi vi` nước với cát sẽ tràn lấp ngay sau khi ta nhấc xẻng lên, có cố gắng lắm cũng không thể đào sâu đến nửa thước. Vi` có ống, nên khi móc cát phía bên trong ống, chúng ta chỉ cần ít phút là đã có thể sờ thấy vo`i con hến rồi. Người không kinh nghiệm sẽ nắm lấy cái vo`i mà kéo, nó thường đứt luôn, để laị nguyên con so`, mà con này rồi cũng sẽ chết vi` cái vo`i là bộ phận nó dùng để hút đồ ăn là phiêu sinh vật trong nước biển. Người đào cát phải biết khi nào nương tay, kẻo xẻng sẽ xén đứt luôn cái vo`i voi của con so`, mà vo`i này là chỗ ngon nhất.
Người đào đương nhiên mệt lắm, nhưng người ''mo` so`'' còn mệt hơn, phải nằm dài xuống mặt cát, tay thọc sâu để rờ rẫm xem cái vo`i nằm nơi đâu. Khi bàn tay đã nắm được cái vo`i, ngón tay trỏ phải nong cát chung quanh vỏ so` ra cho rộng, rồi vừa kéo, vừa lắc mà rút ra. Có nhiều khi con so` ở sâu qúa, người mo` so` chui cả đầu vào ống, chỉ co`n hai chân loi choi trên mặt cát, nên không có thế để lên, phải la toáng lên thi` đồng bạn mới biết mà kéo ra khỏi ống. Lúc anh mo` so` thoát ra khỏi miệng ống, mặt mũi lấm lem, tay nắm chặt con so`, thế mà trên môi lại còn nở nụ cười ti`nh. Mặt tươi rói như ông Đại sứ.
Có anh bạn trong bọn chúng tôi, đi ti`m những chỗ có hai lỗ ở bên nhau mà đào, thành thử anh ta cứ bắt được mỗi lần một đôi ti`nh nhân so` hến. Mới xế trưa, mà gió biển thổi mạnh qúa, những người ướt quần áo thi` bắt đầu run vi` lạnh. Chúng tôi đành ra về vi` có lẽ mỗi người đã được cả chục con.
Tôi đã từng nhi`n thấy con hến vo`i voi nhiều lần được bày bán trong siêu thị, nhưng nhi`n nó tôi hơi nhờn nhợn nên chưa ăn thử bao giờ. Buổi tối hôm ấy, là lần đầu tiên tôi ăn, mà laị ăn sống theo kiểu Sushi, tôi mơí thấy vị ngon ngọt của nó. Hèn chi người Tàu, người Nhật đi đào đông quá. Nhưng họ được ít lắm, mỗi lần bắt được một con, cả bọn hò reo như đào được mỏ vàng. Co`n bọn chúng tôi, nếu thả sức cho đào, có lẽ mỗi người sẽ được vài ba chục con, vi` chúng tôi là chuyên viên đào mương, đào lỗ ngoài freeway của công ty Amland. Một công ty do người VN làm chủ lớn nhất (nói theo kiểu quảng cáo của những cơ sở thương mại VN), không những riêng ở Cali, mà còn trên toàn cõi Hoa Kỳ. Mà vi` là công ty độc nhất, nên không có ai đứng hạng nhi`. Sorry!
San Jose với đường xá mở rộng thêm nhiều, nhưng xe cộ vẫn kẹt cứng. Những khu kỹ nghệ to lớn với parking đậu đầy xe loại mắc tiền; Ánh đèn ở những khu thương mại chói chang, xứng danh là thung lũng điện tử nổi danh trên toàn thế giới. Ấy vậy mà bên cạnh những cao ốc, vẫn còn rất nhiều đất để hoang, có hoa vàng nở rộ và hai bên xa lộ, đôi khi ta còn bắt gặp vài chú nai đi ngơ ngác, nhất là đi lên hướng Saratoga, highway 9. Cảnh trí nơi này không khác gi` Đà lạt, với núi đèo, thác suối. Tiếng lá reo hoà với tiếng suối róc rách, làm cho ta ngỡ rằng đã lạc vào chốn thiên thai.
Có lẽ vi` không một ai than phiền với sở Animal Control, nên tuy là một thành phố lớn, nhưng nửa đêm về sáng, người ta vẫn nghe thấy tiếng gà eo óc gáy. Tôi phần thi` nhớ nhà, phần thi` bị bệnh mất ngủ, lại càng không ngủ được. Cảnh thổ ở bên quê nhà cứ lởn vởn trong trí, với bờ ao ruộng lúa. Mỗi lần nghe tiếng gà gáy, tôi lại nhớ bài thơ Nắng Mới của Lưu Trọng Lư:
Mỗi lần nắng mới hắt ven song
Xao xác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không
Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước dậu phơi
Hi`nh bóng mẹ tôi chửa xóa mờ
Vẫn co`n mường tượng lúc vào ra
Nụ cười đen nhánh sau tay áo
Trong nắng trưa hè trước dậu thưa.
Mẹ tôi co`n sống, mà mỗi lần đọc bài thơ này là tôi muốn sa nước mắt, tôi thương cảm giùm những người mất mẹ.
Rất may cho tôi là lần này lên làm việc đúng vào dịp hãng có vài công việc được trả tiền theo đầu người, nghĩa là làm việc tà tà, không chuyên môn cũng được (Những công nhân này được gọi là Cà Đơ). Dân Cà Đơ không lái được xe Heavy equipment, không biết chạy dây điện, cũng được trả ba bốn chục đồng. Tôi cũng thuộc diện Cà Đơ, nhưng may quá, được trả tới năm chục một giờ, nên khi cầm tấm check, thấy nặng trĩu cả hai tay. Lần này, tôi cũng có dịp đi làm chung với nhạc sĩ Trần Chí Phúc. Không biết nhạc của anh ta hay tới đâu, nhưng giọng ngâm thơ của anh vang lên, lẫn trong tiếng suối nơi Highway 9, đã làm ruột gan tim phổi tôi lộn tùng phèo.
V... em như cái chũm cau
Cho anh bóp cái, có đau anh đền.
Nơi đây, phiá Tây Bắc San Jose, giữa rừng thông cao vút, có con đường nhỏ dẫn vào một trang trại trồng nho, mà những gốc nho già gần hai trăm tuổi, lớn bằng bắp vế, có cơ sở làm rượu Savanah Winery và Tasting room. Lúc chúng tôi vào pho`ng nếm rượu, đã có dăm ba người Mỹ đang uống rượu trong những ly chân cao. Người phụ nữ rót rượu tươi cười giải thích từng màu sắc của từng ly rượu và nói rằng mỗi người khách phải trả bảy đô la. Chúng tôi đồng y’ và sau khi uống đến ly thứ ba là đã thấy chếnh choáng. Rượu vang tuy coi vậy, nhưng độ rượu cũng mạnh ra gi`.
Không biết là tại vi` thấy chúng tôi mặc áo màu vàng của công nhân ngoài freeway trông hem hễ quá, hay tại nhi`n thấy ông Chí Phúc và tôi đẹp trai quá, mà cô bán rượu, sau cùng không tính tiền. (Vi` đi chung với ông Chí Phúc, nên bạn bè gọi tôi là Chí Phèo ). Số tiền rượu không phải trả, nếu đem mua bia, thi` cả bọn uống cả tuần không hết.
Một hôm ủi đất kế bên mương nước, tôi bị giật mi`nh vi` con vịt trời vụt bay lên, khi nhi`n trong đám cỏ có ổ trứng 12 cái. Tôi cũng chẳng muốn lấy trứng làm gi`, nhưng nếu không dẹp ổ vịt qua một bên, thi` không có chỗ mà làm. Hai con vịt cứ bơi qua, lội lại trên mương nước nên chúng tôi bảo nhau :
- Nếu không sợ bị phạt 500 đô, tụi mi`nh vơ hai con vịt này về thi` tối nay có tiết canh.
Ngồi nhi`n hai con vịt, tôi lại nhớ tới ngày còn nhỏ (tôi có cái tật hay nhớ như vậy), ngồi làm vịt ở cầu ao, lúc làm bộ lo`ng, vi` tính hay lơ đãng nên đàn cá lo`ng tong bu lại rỉa gần hết tôi mới nhớ ra, tức nổi xung lên, tôi cằm con dao phay chặt đại xuống mặt nước mấy phát, cả chục con cá đứt đôi nổi phều lên mặt nước. Cho đáng đời, ai biểu mày rỉa!
Hồi co`n ở Orange County, có những cuối tuần tôi không biết đi đâu, làm gi` cho qua ngày, nhưng những cuối tuần ở San Jose lại qua mau quá. Có lần, tôi được rủ đi đào ốc vo`i voi ngoài cồn cát ở vùng vịnh San Fancisco.
Sáng thứ bảy, đoàn xe ba bốn chiếc nối đuôi nhau chạy lên hướng bắc. Tôi đi chiếc Ford F150 có kéo theo chiếc canô. Từ San Jose đến San Fancisco cũng hơn một tiếng đồng hồ. Xe rời freeway để theo đường nhỏ ngoằn ngoèo qua những nông trại nuôi trừu. Những trảng cỏ non bên sườn núi xanh như ruộng mạ, có vài ba con nai đứng ngơ ngác hiền lành.
Đến bờ biển, những người trong bọn chúng tôi chưa có license câu cá thi` phải mua, tốn hơn mười đồng cho hai ngày. Khi cho tàu xuống bến rồi, chúng tôi phải chia ra làm ba toán để ra đảo cát mới đủ chỗ, vi` tàu nhỏ. Chiếc tàu chạy nhanh quá, nó phóng như bay trên mặt nước, chỉ 15 phút đã ra đến nơi. Anh trưởng đoàn giải thích :
- Ốc vo`i voi, co`n gọi là hến, là sò. Tiếng Mỹ gọi là Horse neck clam, mỗi con nặng hơn hai pound, có vo`i lớn bằng nửa cổ tay và dài gần một gang. Nó nằm sâu dưới cát khoảng gần một thước Tây, cứ chỗ nào có cái lỗ cỡ bằng ngón tay, phọt nước ra, thi` chắc chắn dưới đó có con hến... (Có tiếng cười khúc khích). Mỗi người được bắt mười con một ngày, nhưng chúng ta mà bắt được năm con là đã khá lắm rồi, vi` mỗi con ngoài chợ bán cũng gần hai mươi đô la.
Chúng tôi tản ra theo bốn toán, mỗi toán có một cái ống nhựa cứng, đường kính khoảng hai gang tay, và dài gần một thước, có hai dây quai để dễ kéo lên, trang bị thêm hai chiếc xẻng cán dài và mấy chiếc thùng đựng.
Mỗi lần có bước chân động trên mặt cát, là những vo`i nước lại phụt lên, lỗ hến đầy dẫy không thể đếm xuể.
Cồn cát này chi`m dưới mặt nước cả năm, chỉ trong mấy tháng hè mới lộ ra vào những ngày con nước nhỏ, mà cũng chỉ trong mấy giờ mà thôi. Lúc nước triều lên, có nhiều người vi` mải mê với so`, với hến,vô bờ không kịp nên xuýt chết vi` nước. (Nhưng không được gọi là hy sinh vi` tổ quốc).
Đào so` là cả một nghệ thuật: Nhắm ngay cái lỗ, đào chừng vài ba xẻng cát, để cái ống vào rồi nhảy lên trên miệng ống mà nhún nhảy, để cho ống cắm sâu xuống cát. Tại sao lại phải dùng ống như vậy ? Bởi vi` nước với cát sẽ tràn lấp ngay sau khi ta nhấc xẻng lên, có cố gắng lắm cũng không thể đào sâu đến nửa thước. Vi` có ống, nên khi móc cát phía bên trong ống, chúng ta chỉ cần ít phút là đã có thể sờ thấy vo`i con hến rồi. Người không kinh nghiệm sẽ nắm lấy cái vo`i mà kéo, nó thường đứt luôn, để laị nguyên con so`, mà con này rồi cũng sẽ chết vi` cái vo`i là bộ phận nó dùng để hút đồ ăn là phiêu sinh vật trong nước biển. Người đào cát phải biết khi nào nương tay, kẻo xẻng sẽ xén đứt luôn cái vo`i voi của con so`, mà vo`i này là chỗ ngon nhất.
Người đào đương nhiên mệt lắm, nhưng người ''mo` so`'' còn mệt hơn, phải nằm dài xuống mặt cát, tay thọc sâu để rờ rẫm xem cái vo`i nằm nơi đâu. Khi bàn tay đã nắm được cái vo`i, ngón tay trỏ phải nong cát chung quanh vỏ so` ra cho rộng, rồi vừa kéo, vừa lắc mà rút ra. Có nhiều khi con so` ở sâu qúa, người mo` so` chui cả đầu vào ống, chỉ co`n hai chân loi choi trên mặt cát, nên không có thế để lên, phải la toáng lên thi` đồng bạn mới biết mà kéo ra khỏi ống. Lúc anh mo` so` thoát ra khỏi miệng ống, mặt mũi lấm lem, tay nắm chặt con so`, thế mà trên môi lại còn nở nụ cười ti`nh. Mặt tươi rói như ông Đại sứ.
Có anh bạn trong bọn chúng tôi, đi ti`m những chỗ có hai lỗ ở bên nhau mà đào, thành thử anh ta cứ bắt được mỗi lần một đôi ti`nh nhân so` hến. Mới xế trưa, mà gió biển thổi mạnh qúa, những người ướt quần áo thi` bắt đầu run vi` lạnh. Chúng tôi đành ra về vi` có lẽ mỗi người đã được cả chục con.
Tôi đã từng nhi`n thấy con hến vo`i voi nhiều lần được bày bán trong siêu thị, nhưng nhi`n nó tôi hơi nhờn nhợn nên chưa ăn thử bao giờ. Buổi tối hôm ấy, là lần đầu tiên tôi ăn, mà laị ăn sống theo kiểu Sushi, tôi mơí thấy vị ngon ngọt của nó. Hèn chi người Tàu, người Nhật đi đào đông quá. Nhưng họ được ít lắm, mỗi lần bắt được một con, cả bọn hò reo như đào được mỏ vàng. Co`n bọn chúng tôi, nếu thả sức cho đào, có lẽ mỗi người sẽ được vài ba chục con, vi` chúng tôi là chuyên viên đào mương, đào lỗ ngoài freeway của công ty Amland. Một công ty do người VN làm chủ lớn nhất (nói theo kiểu quảng cáo của những cơ sở thương mại VN), không những riêng ở Cali, mà còn trên toàn cõi Hoa Kỳ. Mà vi` là công ty độc nhất, nên không có ai đứng hạng nhi`. Sorry!
Chim đa đa
Đưa các loại chim chóc vào bài hát thì đã có rất nhiều nhạc sĩ làm, từ những con nhỏ bé như chim sâu, đến những con chim lớn như hải âu, cò trắng. Từ những con có giọng hót véo von như yến oanh, chích chòe, đến những con suốt đời câm như hến.Nhưng mấy năm trước, có ông nhạc sĩ Võ Đông Điền làm ra bản nhạc Chim Đa Đa, rồi sau thấy ăn khách quá, lại thòi ra một bản mới là Xin Đừng Trách Đa Đa. Nếu bản này mà còn có nhiều người khoái, có lẽ sẽ có bản Chim Đa Đa Tập I, Tập II v v..Hôm trước trên Đài Radio ở Little Saigon, có thính gỉa đặt câu hỏi rằng chim đa đa nó như thế nào, lớn không, nó hót ra làm sao mà có thể nghĩ rằng nó thay chàng trai, trách người yêu sao không lấy chồng gần, mà lấy chồng xa ? Hôm ấy hầu như không có ai nói về con chim này cho đúng, chỉ phỏng đoán, hay nói xạo mà thôi. Tôi cũng ngứa mép lắm mà gọi vào đài không được, vì đang lái xe, mà lòng thì cứ ấm ức mãi.
Mà nghĩ cũng lạ, chàng trai nào đó âm mưu gì đây , mà muốn nàng lấy chồng gần ? Gần để giúp đỡ (Thí dụ như chở nàng đi khám thai) hay toan tính chuyện gì? Coi chừng có ngày ăn dao phay ! Cứ theo tôi, thì nếu không lấy nhau được, cứ để nàng đi lấy chồng thiệt xa, để lâu lâu nàng về thăm nhà, mình gặp gỡ ít khi bị lộ và nếu lỡ chồng nàng có biết thì mình còn đủ thời giờ để . . chạy. Ai ngu gì mà ở đó chịu chết, đời trai có chết ở sông hồ cũng đáng, ai lại đi chết vì cái lỗ chân trâu ?Đối với nhiều người đã từng quen sống nơi rừng núi hay ruộng vườn, khi dọn về thành phố, họ nhớ nhung nhiều thứ lắm, nhưng nhớ nhiều nhất có lẽ là tiếng chim. Hiện nay có nhiều người mua cuộn băng có tiếng chim hót để nghe cho vơi nỗi nhớ, vì nuôi chim trong lồng coi vậy chứ cũng phiền hà lắm, phải lo thức ăn, nước nôi, làm sạch sẽ chuồng v v..
Suốt cả miền Nam, tôi chưa nhìn thấy con chim đa đa ở đâu ngoại trừ ở Dầu Tiếng, Bình Dương. Con chim này không hót, không thể nói là nó gáy nữa, mà phải dùng từ "kêu". Giọng nó ồ ề như tiếng qụa già, chỉ có mấy chữ đầu đa đa đa.. là nó cất cao giọng, chứ một tràng tiếng về sau thì nó xuống giọng rất trầm như giọng thuốc lào của một ông gìa đang cằn nhằn con cháu:
-Đà, đa đa đa.. đá đá đa đà.. đà đa đá đa.
Giọng kêu này đã bị trẻ con sửa laị :
- Đà đa đa đa , xúc tép kho cà, cà kho cá khô ?
Con đa đa lớn gần bằng con gà, lông nâu, thỉnh thoảng có vài lông màu trắng. Nó thường được nhìn thấy đậu đơn lẻ chứ không ở thành bầy. Từ nhà tôi, nhìn ra con suối, nơi có cái cầu nhỏ bắc ngang, có cây gáo thiệt to, bên này có cây núc nác cụt ngọn, và con chim đa đa thường đứng trên ngọn cây này. Chừng mười lăm phút nó lại kêu lên với giọng rền vang nhưng buồn thảm như thế. Hai bên bờ suối, có loài dây choại, thuộc họ dương xỉ mọc chằng chịt, ngọn non quấn lại trông như con sâu, nhưng luộc ăn ngon hơn ngọn mùng tơi. Dưới làn nước suối trong veo, từng đàn cá lòng tong bơi lội giữa những cây hẹ nước, lâu lâu đàn cá con chạy tán loạn vì anh đa đa nhào xuống gắp một con cá lên đứng trên ngọn cây ăn ngon lành.
Từ đó đến nay, tôi không hề nghe ai nhắc nhớ đến con chim này, kể cả trong sách vở hay văn chương. Cứ so sánh con bìm bịp, trông nó xấu xí hơn đa đa nhiều, nhưng trong ca dao vẫn còn nhắc tới : "Bìm bịp kêu nước lớn rồi".
Những bợm nhậu thì chẳng lạ gì bìm bịp ngâm rượu thuốc, cái bình rượu trước mặt họ có con chim lông nâu đứng chân co chân duỗi như con hạc thờ, lẫn lộn với mấy con rắn hổ mang trông thấy ớn.
Bốn mươi năm vùn vụt qua đi, tôi trở về đứng dưới gốc cây gáo của thời ấu thơ, ngước mắt nhìn lên cây núc nác cụt ngọn, nhưng con chim đa đa nay ở phương nào ?Dòng suối trong vắt ngày xưa nay chỉ còn là một mương nước đục lờ. Người ta ngăn đập, đào bờ suối, đắp bờ con để tạo thành những mảnh ruộng luá hẹp té hai bên bờ.
Thằng bé mũi dãi nhếch nhác ngày nào, nay tóc đã điểm sương, đứng ngơ ngẩn nhìn, nghĩ đến nỗi biến suy của cuộc đời. Bỗng nghe có tiếng gió xao xác từ rừng cây bạt ngàn vọng về:
Đa đa ơi, ơi hỡi đa đa..
Mà nghĩ cũng lạ, chàng trai nào đó âm mưu gì đây , mà muốn nàng lấy chồng gần ? Gần để giúp đỡ (Thí dụ như chở nàng đi khám thai) hay toan tính chuyện gì? Coi chừng có ngày ăn dao phay ! Cứ theo tôi, thì nếu không lấy nhau được, cứ để nàng đi lấy chồng thiệt xa, để lâu lâu nàng về thăm nhà, mình gặp gỡ ít khi bị lộ và nếu lỡ chồng nàng có biết thì mình còn đủ thời giờ để . . chạy. Ai ngu gì mà ở đó chịu chết, đời trai có chết ở sông hồ cũng đáng, ai lại đi chết vì cái lỗ chân trâu ?Đối với nhiều người đã từng quen sống nơi rừng núi hay ruộng vườn, khi dọn về thành phố, họ nhớ nhung nhiều thứ lắm, nhưng nhớ nhiều nhất có lẽ là tiếng chim. Hiện nay có nhiều người mua cuộn băng có tiếng chim hót để nghe cho vơi nỗi nhớ, vì nuôi chim trong lồng coi vậy chứ cũng phiền hà lắm, phải lo thức ăn, nước nôi, làm sạch sẽ chuồng v v..
Suốt cả miền Nam, tôi chưa nhìn thấy con chim đa đa ở đâu ngoại trừ ở Dầu Tiếng, Bình Dương. Con chim này không hót, không thể nói là nó gáy nữa, mà phải dùng từ "kêu". Giọng nó ồ ề như tiếng qụa già, chỉ có mấy chữ đầu đa đa đa.. là nó cất cao giọng, chứ một tràng tiếng về sau thì nó xuống giọng rất trầm như giọng thuốc lào của một ông gìa đang cằn nhằn con cháu:
-Đà, đa đa đa.. đá đá đa đà.. đà đa đá đa.
Giọng kêu này đã bị trẻ con sửa laị :
- Đà đa đa đa , xúc tép kho cà, cà kho cá khô ?
Con đa đa lớn gần bằng con gà, lông nâu, thỉnh thoảng có vài lông màu trắng. Nó thường được nhìn thấy đậu đơn lẻ chứ không ở thành bầy. Từ nhà tôi, nhìn ra con suối, nơi có cái cầu nhỏ bắc ngang, có cây gáo thiệt to, bên này có cây núc nác cụt ngọn, và con chim đa đa thường đứng trên ngọn cây này. Chừng mười lăm phút nó lại kêu lên với giọng rền vang nhưng buồn thảm như thế. Hai bên bờ suối, có loài dây choại, thuộc họ dương xỉ mọc chằng chịt, ngọn non quấn lại trông như con sâu, nhưng luộc ăn ngon hơn ngọn mùng tơi. Dưới làn nước suối trong veo, từng đàn cá lòng tong bơi lội giữa những cây hẹ nước, lâu lâu đàn cá con chạy tán loạn vì anh đa đa nhào xuống gắp một con cá lên đứng trên ngọn cây ăn ngon lành.
Từ đó đến nay, tôi không hề nghe ai nhắc nhớ đến con chim này, kể cả trong sách vở hay văn chương. Cứ so sánh con bìm bịp, trông nó xấu xí hơn đa đa nhiều, nhưng trong ca dao vẫn còn nhắc tới : "Bìm bịp kêu nước lớn rồi".
Những bợm nhậu thì chẳng lạ gì bìm bịp ngâm rượu thuốc, cái bình rượu trước mặt họ có con chim lông nâu đứng chân co chân duỗi như con hạc thờ, lẫn lộn với mấy con rắn hổ mang trông thấy ớn.
Bốn mươi năm vùn vụt qua đi, tôi trở về đứng dưới gốc cây gáo của thời ấu thơ, ngước mắt nhìn lên cây núc nác cụt ngọn, nhưng con chim đa đa nay ở phương nào ?Dòng suối trong vắt ngày xưa nay chỉ còn là một mương nước đục lờ. Người ta ngăn đập, đào bờ suối, đắp bờ con để tạo thành những mảnh ruộng luá hẹp té hai bên bờ.
Thằng bé mũi dãi nhếch nhác ngày nào, nay tóc đã điểm sương, đứng ngơ ngẩn nhìn, nghĩ đến nỗi biến suy của cuộc đời. Bỗng nghe có tiếng gió xao xác từ rừng cây bạt ngàn vọng về:
Đa đa ơi, ơi hỡi đa đa..
Các Nhà Thờ Của Quận Dầu Tiếng
Có lẽ đây là quận mà dân ti`nh nghèo nhất của tỉnh Bi`nh Dương, vi` đại đa số đi làm công nhân cạo mủ cao su, thi` còn khuya mới ngóc đầu lên nổi.
Vậy mà thật lạ là từ vùng rừng cao su đất đỏ xa xôi đó, lại có nhóm người làm thế nào mà vượt thoát sang xứ Huê Kỳ này, mà có nhiều không ? Sao họ lại có thể thành lập được Hội Ái Hữu Dầu Tiếng ở San Jose?
Bây giờ nhớ lại tôi cũng không biết quận lỵ này cách Thủ Dầu Một bao xa, vi` hồi đó tôi co`n nhỏ quá, mới năm sáu tuổi, chỉ biết có hãng xe đo` Phước Chí chạy đường cầu Bình Nôm, Thanh An, Cỏ Trách mà xuống chợ Thủ, hay chạy bằng một đường khác, xuyên qua các làng Một, làng Bốn vô tới gần Thị Tính rồi quẹo qua Bến Cát mà xuống SaiGon.
Đọc cuốn Đặc San Tết Giáp Thân, thấy anh Từ Minh Tâm nói về các chùa gần Bình Dương, tôi cũng xin nói về những hồi ức về mấy nhà thờ ở quận Dầu Tiếng.
Trong mấy mươi làng trong rừng cao su thuộc hãng Michelin thì chỉ 3 làng có nhà thờ mà thôi, đó là nhà thờ làng Một (họ Đức Bà), cách chợ quận chừng hơn cây số, có linh mục ; Nhà thờ làng Sáu gần nhà thương thi` chỉ có các di` phước coi sóc và sáng chúa nhựt có cha ở nhà thờ lớn ngoài chợ (họ Trái Tim) vô làm lễ.
Nhà thờ này khuôn viên rất đẹp, chung quanh có trồng kiểng, nhiều nhất là bông náng (tên sách là đại tướng quân). Bông này trắng nuốt như hoa huệ nhưng thơm hơn nhiều. Vườn nhà thờ có trồng mận xanh và một hàng me cao vút. Có nhà bà phước và trường dậy học tới lớp nhứt. Năm học lớp 3, má tôi bắt vô trường này để học đạo cho dù phải đi 2 cây số xuyên qua rừng thưa, sáng đi tối về ghê sợ lắm.
Sau này đi nhiều nơi, tôi mới thấy đặc biệt địa phận Phú Cường có sách dạy giáo lý (kêu là sách Phần) đọc ê a chầm chậm như thế nầy:
-Hỏi có mấy đường lên thiên đàng .
-Thưa có một đường rất chính rất thật là đạo Thiên Chúa.
Co`n các địa phận khác thi` con nít học cuốn Thánh Giáo Thuyết Minh . Những bài kinh cũng có nhiều bài lạ lùng:
-A ! Chúa tôi, chúa trời cực khôn cực tốt. Tôi cám ơn chúa bởi chúa vi` tôi, chúa đã xuống thế làm thân người ta, chúa đã sanh ra ở hang tàu lừa.....
Co`n một nhà thờ nữa nhỏ hơn ở trong làng Bốn, tuy vậy nó vẫn được xây bằng gạch, lợp ngói và có tháp chuông. Tôi thường nằm dưới tháp ngó lên quả chuông to lớn, nhưng luôn né qua một bên, lo sợ lỡ nó có rớt xuống thi` mi`nh không bị úp vô trong. Gần kế bên hông nhà thờ có một cây gõ cổ thụ cả chục người ôm không giáp, về mùa trái rụng xuống đầy gốc, gai góc lởm chởm như trái chôm chôm.
Mỗi năm đến lễ Noel thì dân trong các làng dù có đạo hay không vẫn tuôn ra khu vực nhà thờ chợ quận. Đèn sao giăng mắc, nhạc thánh ca vang lừng. Cô gái đẹp mà nết na nhứt họ đạo sẽ được chọn đóng vai Đức mẹ Maria đứng nơi hang đá có Chúa hài đồng.
Làng tôi cách chợ khoảng 7 cây số, năm 6 tuổi được đi dự lễ Noel đầu tiên trong đời ... và tôi bị lạc trong lễ nửa đêm, khóc quá xá, nhưng vi` to họng quá, nên mấy người làng nghe được cái giọng đặc biệt của tôi mà dẫn về.
Sao hồi đó tôi thấy khuôn viên và thánh đường họ Trái Tim to lớn quá, mà năm 95 tôi về thăm lại thi` thấy điù hiu như muốn ụp xuống cái sân xi măng nứt nẻ, hàng ghế xộc xệch xiêu vẹo vì chịu đựng gần 100 năm nay. Tượng Chúa giang tay như quá mỏi mệt vì đàn chiên nay rời rạc không biết tản mác phương nào .
Hỏi ra mới biết đạo Chúa càng ngày càng phát triển trong vùng đầy bóng tối của rừng cao su, nhưng bây giờ cả quận Dầu Tiếng chỉ co`n có cái nhà thờ tại chợ quận này, 3 cái kia giờ không co`n vết tích bởi chiến tranh, không co`n "một ho`n gạch nào chồng lên ho`n gạch nào" như thành Giê-ru-salem ngày xưa vậy .
Cám ơn các bạn đã bỏ công sức ra rất nhiều vi` nặng ti`nh quê hương, mà lập nên hội Ái Hữu Dầu Tiếng, để chúng ta còn có nơi hội tụ, nói về nơi quê hương yêu dấu.
Vậy mà thật lạ là từ vùng rừng cao su đất đỏ xa xôi đó, lại có nhóm người làm thế nào mà vượt thoát sang xứ Huê Kỳ này, mà có nhiều không ? Sao họ lại có thể thành lập được Hội Ái Hữu Dầu Tiếng ở San Jose?
Bây giờ nhớ lại tôi cũng không biết quận lỵ này cách Thủ Dầu Một bao xa, vi` hồi đó tôi co`n nhỏ quá, mới năm sáu tuổi, chỉ biết có hãng xe đo` Phước Chí chạy đường cầu Bình Nôm, Thanh An, Cỏ Trách mà xuống chợ Thủ, hay chạy bằng một đường khác, xuyên qua các làng Một, làng Bốn vô tới gần Thị Tính rồi quẹo qua Bến Cát mà xuống SaiGon.
Đọc cuốn Đặc San Tết Giáp Thân, thấy anh Từ Minh Tâm nói về các chùa gần Bình Dương, tôi cũng xin nói về những hồi ức về mấy nhà thờ ở quận Dầu Tiếng.
Trong mấy mươi làng trong rừng cao su thuộc hãng Michelin thì chỉ 3 làng có nhà thờ mà thôi, đó là nhà thờ làng Một (họ Đức Bà), cách chợ quận chừng hơn cây số, có linh mục ; Nhà thờ làng Sáu gần nhà thương thi` chỉ có các di` phước coi sóc và sáng chúa nhựt có cha ở nhà thờ lớn ngoài chợ (họ Trái Tim) vô làm lễ.
Nhà thờ này khuôn viên rất đẹp, chung quanh có trồng kiểng, nhiều nhất là bông náng (tên sách là đại tướng quân). Bông này trắng nuốt như hoa huệ nhưng thơm hơn nhiều. Vườn nhà thờ có trồng mận xanh và một hàng me cao vút. Có nhà bà phước và trường dậy học tới lớp nhứt. Năm học lớp 3, má tôi bắt vô trường này để học đạo cho dù phải đi 2 cây số xuyên qua rừng thưa, sáng đi tối về ghê sợ lắm.
Sau này đi nhiều nơi, tôi mới thấy đặc biệt địa phận Phú Cường có sách dạy giáo lý (kêu là sách Phần) đọc ê a chầm chậm như thế nầy:
-Hỏi có mấy đường lên thiên đàng .
-Thưa có một đường rất chính rất thật là đạo Thiên Chúa.
Co`n các địa phận khác thi` con nít học cuốn Thánh Giáo Thuyết Minh . Những bài kinh cũng có nhiều bài lạ lùng:
-A ! Chúa tôi, chúa trời cực khôn cực tốt. Tôi cám ơn chúa bởi chúa vi` tôi, chúa đã xuống thế làm thân người ta, chúa đã sanh ra ở hang tàu lừa.....
Co`n một nhà thờ nữa nhỏ hơn ở trong làng Bốn, tuy vậy nó vẫn được xây bằng gạch, lợp ngói và có tháp chuông. Tôi thường nằm dưới tháp ngó lên quả chuông to lớn, nhưng luôn né qua một bên, lo sợ lỡ nó có rớt xuống thi` mi`nh không bị úp vô trong. Gần kế bên hông nhà thờ có một cây gõ cổ thụ cả chục người ôm không giáp, về mùa trái rụng xuống đầy gốc, gai góc lởm chởm như trái chôm chôm.
Mỗi năm đến lễ Noel thì dân trong các làng dù có đạo hay không vẫn tuôn ra khu vực nhà thờ chợ quận. Đèn sao giăng mắc, nhạc thánh ca vang lừng. Cô gái đẹp mà nết na nhứt họ đạo sẽ được chọn đóng vai Đức mẹ Maria đứng nơi hang đá có Chúa hài đồng.
Làng tôi cách chợ khoảng 7 cây số, năm 6 tuổi được đi dự lễ Noel đầu tiên trong đời ... và tôi bị lạc trong lễ nửa đêm, khóc quá xá, nhưng vi` to họng quá, nên mấy người làng nghe được cái giọng đặc biệt của tôi mà dẫn về.
Sao hồi đó tôi thấy khuôn viên và thánh đường họ Trái Tim to lớn quá, mà năm 95 tôi về thăm lại thi` thấy điù hiu như muốn ụp xuống cái sân xi măng nứt nẻ, hàng ghế xộc xệch xiêu vẹo vì chịu đựng gần 100 năm nay. Tượng Chúa giang tay như quá mỏi mệt vì đàn chiên nay rời rạc không biết tản mác phương nào .
Hỏi ra mới biết đạo Chúa càng ngày càng phát triển trong vùng đầy bóng tối của rừng cao su, nhưng bây giờ cả quận Dầu Tiếng chỉ co`n có cái nhà thờ tại chợ quận này, 3 cái kia giờ không co`n vết tích bởi chiến tranh, không co`n "một ho`n gạch nào chồng lên ho`n gạch nào" như thành Giê-ru-salem ngày xưa vậy .
Cám ơn các bạn đã bỏ công sức ra rất nhiều vi` nặng ti`nh quê hương, mà lập nên hội Ái Hữu Dầu Tiếng, để chúng ta còn có nơi hội tụ, nói về nơi quê hương yêu dấu.
Chuyện Khỉ
Năm 1961, miền Tây bị trận lụt nặng lắm, lúa mùa mới cao chừng nửa thước mà nước lụt dâng lên hơn hai thước. Nếu không ti`m nơi khác mà sinh sống thi` khó qua khỏi đói khát cho đến mùa lúa sang năm. Má tôi như một con mèo, tha bầy con trở lên rừng, về lại quê xưa ở vùng Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương.
Thoát được cảnh nước lụt, chúng tôi lại phải đối đầu với thú rừng, loại thú này thông minh có lẽ chỉ kém loài người mà thôi. Đó là bầy khỉ.
Vì chưa đến 18 tuổi, anh em tôi không thể xin vào làm bất cứ công việc nào cho hãng cao su Michelin, dù chỉ làm cỏ trong vườn cao su, nên đành đi theo làm rẫy với mấy gia đi`nh bạn của má tôi ở ven bờ sông Thị Tính. Đã khá lâu sống quen với do`ng nước đục ngầu phù sa chảy hiền hoà ở vùng Hậu giang rồi, chúng tôi cảm thấy sợ hãi khi nhi`n thấy do`ng nước xanh đen , chảy mạnh thành những cái xoáy sâu hun hút ghê rợn, lo`ng mường tượng những loài thủy quái đang ẩn núp ở tận dưới đáy kia, bất ngờ chồm lên trên mặt nước. Dưới sông thi` mặt nước đầy vẻ âm u kỳ bí, ven bờ cây dứa dại mọc um tùm. Vẳng trên rừng tiếng vượn hú chim kêu. Đến đêm nghe tiếng nai lép bép đã sợ; Ban ngày lại thấy khỉ chạy từng đàn mà thất kinh. Đúng là trái ngược với cảnh thổ mà chúng tôi vừa phải rời xa. Tuy thế rồi cũng phải quen dần.
Sông Thị Tính là một nhánh nhỏ của sông SG chảy ngang Thị Xã Thủ Dầu Một. Vùng thượng nguồn này được bao bọc bởi những vườn cao su bao la kéo dài từ Tây Ninh xuống tận Bến Cát. Tuy nhiên rừng cây vẫn co`n bạt ngàn, nơi sinh sống của vô vàn thú hoang, mà nhiều nhất là loài khỉ.
Khi chúng tôi phá rừng , cuốc rẫy , khỉ kéo ra hàng bầy, ngồi trên rặng cây cao nho`m xuống. Chúng nhảy nhót, chí choé, rồi bắt rận cho nhau. Khỉ mẹ đeo con dưới bụng, khỉ cha làm trò khỉ. Nhất là khi mấy con khỉ đực này nhi`n thấy mấy bà, mấy cô là chúng làm những trò tục tĩu không chịu được.
Nhưng đến khi bắp đã có trái, khoai lang và đậu phọng đã có củ, bọn khỉ này trở thành đảng cướp chứ không phải là ăn trộm nữa.
Chúng nhổ dây khoai có dính cả củ, ràng quanh người, rồi bẻ bắp dắt vào cho được nhiều, tay còn cầm thêm vài gốc đậu phọng dính đầy những củ. Khi nông dân gõ phèng la rượt đuổi, chúng chạy hai chân như người, tay vung vẩy chiến lợi phẩm cho đến khi bị bắt buộc vất đi một mớ để rảnh tay mà trèo cây. Khi ngồi chót vót trên cao rồi, đàn khỉ kêu chót chét khiêu khích, nó còn gãi dái như trêu tức chúng tôi. Mấy anh em tôi chỉ có dàn thung (ná cao su) bắn lên tới nó chẳng nhằm nho` gi`.
Nhớ hồi co`n ở dưới ruộng, mấy ông già xưa thường kể rằng: Ở dưới miệt U Minh, người ta bắt khỉ bằng cách cho chúng ăn cơm rượu cho say, hoặc cho nghịch nước có pha ớt để bắt. Chúng tôi liền bắt chước.
Ở một khoảng đất trống kế bên bià rừng, chúng tôi dùng cây nứa cao hơn đầu người, đóng quây thành một vo`ng tro`n đường kính cỡ tám thước, có ràng dây cho chắc chắn, lại cột một cành cây bằng cổ tay từ hàng cây bià rừng chĩa vào giữa vo`ng vây, nhưng mút đầu vẫn cách mặt đất gần hai thước. Chúng tôi để vô giữa một chậu đầy cơm rượu , và một chĩnh (tỉn) nước đã gĩa ớt hiểm bỏ vào, rồi núp trong bụi cây xa xa mà ri`nh .
Lúc chúng tôi làm vo`ng rào này, bọn khỉ đã bén mảng ra xem , đến khi thấy mọi người về hết, con khỉ đầu đàn chuyền theo cành cây vào giữa vo`ng để thám thính. Thấy không có gi` khả nghi, nó nhảy xuống , bốc cơm rượu lên ăn một cách ngon lành. Cả bầy ùa xuống, giành nhau ăn, lộn xộn như một đám con nít tranh nhau trong đám cúng cô hồn. Khi đã no say , chúng ti`m nước uống, mà cái tỉn nước miệng nhỏ quá, bèn thọc tay vào mà hớt. Nước đã không lấy được, lại cấu xé nhau, nên nước ớt dính tèm lem lên mặt, chúng dụi mắt liên hồi vi` xót, một hồi sau, không con nào co`n mở mắt ra nổi nên đi ngả nghiêng ở trong vo`ng rào.
Đến lúc ấy, chúng tôi mới chạy tới, dùng tho`ng lọng lôi cổ từng anh ra mà trói thúc ké. Đúng là trói giật cánh khỉ.
Mấy anh lơ xe đo` bàn rằng , nên bỏ hết vô bao gởi mấy ảnh đem xuống Bình Dương mà bán, có khi được khối tiền, chứ biết làm gi` với cả trăm con khỉ bây giờ. Qủa vậy, họ đã đem về số tiền lớn mà chúng tôi không ngờ. Họ kể lại là người ta mua hết để nấu cao khỉ, và co`n chở xuống Sàigon Chợ lớn gi` đó bán cho Cắc chú ăn óc khỉ sống. Nghe nói bổ lắm.
Có người lại tả rõ ràng y như anh ta đã từng vào nhà hàng: “Con khỉ sống bị trói ngồi dưới gầm bàn có phủ khăn trắng, chỉ tho` cái sọ lên. Khách ăn lấy búa hay dao bén cắt ngang sọ khỉ như ta vạc trái dừa non, rắc muối tiêu lên, vắt chanh vào rồi lấy muỗng múc ăn như ăn tàu hũ. Không biết lúc đó miệng con khỉ có bị dán băng keo không, nếu không chắc nó kêu thét lên ai nghe thấy mà không ớn.
Bị một vố nặng quá, đàn khỉ co`n lại rút sâu vô rừng, không biết chừng nào mới dám ló ra. Chúng tôi để lại vài con khỉ để nuôi chơi, nhưng nó phá phách và dơ dáy quá, lại hao thêm đồ ăn, nên mấy dân nhậu hè nhau đập chết một con, nhúng nước sôi , cạo lông rồi thui như thui chó. Con khỉ co`n lại, nhi`n thấy vậy kêu khóc thảm thiết quá, và nếu có ai tới gần, nó chắp tay như lạy trông rất tội nghiệp.
Con khỉ khi cạo sạch lông, trông không khác gi` thân thể một đứa bé, giống từ đầu cổ, chân tay, cho tới cả cơ quan sinh dục. Tôi nhi`n mà lo`ng kinh sợ, và cả ngày không dám mon men đến gần đám nhậu.
Đêm hôm đó, thao thức không ngủ được, tôi len lén ra cởi dây cho con khỉ rồi xua đuổi nó chạy vào rừng. Quên đi rằng cả bọn chúng nó đã cướp không, mồ hôi và sức lực của biết bao người.
Thoát được cảnh nước lụt, chúng tôi lại phải đối đầu với thú rừng, loại thú này thông minh có lẽ chỉ kém loài người mà thôi. Đó là bầy khỉ.
Vì chưa đến 18 tuổi, anh em tôi không thể xin vào làm bất cứ công việc nào cho hãng cao su Michelin, dù chỉ làm cỏ trong vườn cao su, nên đành đi theo làm rẫy với mấy gia đi`nh bạn của má tôi ở ven bờ sông Thị Tính. Đã khá lâu sống quen với do`ng nước đục ngầu phù sa chảy hiền hoà ở vùng Hậu giang rồi, chúng tôi cảm thấy sợ hãi khi nhi`n thấy do`ng nước xanh đen , chảy mạnh thành những cái xoáy sâu hun hút ghê rợn, lo`ng mường tượng những loài thủy quái đang ẩn núp ở tận dưới đáy kia, bất ngờ chồm lên trên mặt nước. Dưới sông thi` mặt nước đầy vẻ âm u kỳ bí, ven bờ cây dứa dại mọc um tùm. Vẳng trên rừng tiếng vượn hú chim kêu. Đến đêm nghe tiếng nai lép bép đã sợ; Ban ngày lại thấy khỉ chạy từng đàn mà thất kinh. Đúng là trái ngược với cảnh thổ mà chúng tôi vừa phải rời xa. Tuy thế rồi cũng phải quen dần.
Sông Thị Tính là một nhánh nhỏ của sông SG chảy ngang Thị Xã Thủ Dầu Một. Vùng thượng nguồn này được bao bọc bởi những vườn cao su bao la kéo dài từ Tây Ninh xuống tận Bến Cát. Tuy nhiên rừng cây vẫn co`n bạt ngàn, nơi sinh sống của vô vàn thú hoang, mà nhiều nhất là loài khỉ.
Khi chúng tôi phá rừng , cuốc rẫy , khỉ kéo ra hàng bầy, ngồi trên rặng cây cao nho`m xuống. Chúng nhảy nhót, chí choé, rồi bắt rận cho nhau. Khỉ mẹ đeo con dưới bụng, khỉ cha làm trò khỉ. Nhất là khi mấy con khỉ đực này nhi`n thấy mấy bà, mấy cô là chúng làm những trò tục tĩu không chịu được.
Nhưng đến khi bắp đã có trái, khoai lang và đậu phọng đã có củ, bọn khỉ này trở thành đảng cướp chứ không phải là ăn trộm nữa.
Chúng nhổ dây khoai có dính cả củ, ràng quanh người, rồi bẻ bắp dắt vào cho được nhiều, tay còn cầm thêm vài gốc đậu phọng dính đầy những củ. Khi nông dân gõ phèng la rượt đuổi, chúng chạy hai chân như người, tay vung vẩy chiến lợi phẩm cho đến khi bị bắt buộc vất đi một mớ để rảnh tay mà trèo cây. Khi ngồi chót vót trên cao rồi, đàn khỉ kêu chót chét khiêu khích, nó còn gãi dái như trêu tức chúng tôi. Mấy anh em tôi chỉ có dàn thung (ná cao su) bắn lên tới nó chẳng nhằm nho` gi`.
Nhớ hồi co`n ở dưới ruộng, mấy ông già xưa thường kể rằng: Ở dưới miệt U Minh, người ta bắt khỉ bằng cách cho chúng ăn cơm rượu cho say, hoặc cho nghịch nước có pha ớt để bắt. Chúng tôi liền bắt chước.
Ở một khoảng đất trống kế bên bià rừng, chúng tôi dùng cây nứa cao hơn đầu người, đóng quây thành một vo`ng tro`n đường kính cỡ tám thước, có ràng dây cho chắc chắn, lại cột một cành cây bằng cổ tay từ hàng cây bià rừng chĩa vào giữa vo`ng vây, nhưng mút đầu vẫn cách mặt đất gần hai thước. Chúng tôi để vô giữa một chậu đầy cơm rượu , và một chĩnh (tỉn) nước đã gĩa ớt hiểm bỏ vào, rồi núp trong bụi cây xa xa mà ri`nh .
Lúc chúng tôi làm vo`ng rào này, bọn khỉ đã bén mảng ra xem , đến khi thấy mọi người về hết, con khỉ đầu đàn chuyền theo cành cây vào giữa vo`ng để thám thính. Thấy không có gi` khả nghi, nó nhảy xuống , bốc cơm rượu lên ăn một cách ngon lành. Cả bầy ùa xuống, giành nhau ăn, lộn xộn như một đám con nít tranh nhau trong đám cúng cô hồn. Khi đã no say , chúng ti`m nước uống, mà cái tỉn nước miệng nhỏ quá, bèn thọc tay vào mà hớt. Nước đã không lấy được, lại cấu xé nhau, nên nước ớt dính tèm lem lên mặt, chúng dụi mắt liên hồi vi` xót, một hồi sau, không con nào co`n mở mắt ra nổi nên đi ngả nghiêng ở trong vo`ng rào.
Đến lúc ấy, chúng tôi mới chạy tới, dùng tho`ng lọng lôi cổ từng anh ra mà trói thúc ké. Đúng là trói giật cánh khỉ.
Mấy anh lơ xe đo` bàn rằng , nên bỏ hết vô bao gởi mấy ảnh đem xuống Bình Dương mà bán, có khi được khối tiền, chứ biết làm gi` với cả trăm con khỉ bây giờ. Qủa vậy, họ đã đem về số tiền lớn mà chúng tôi không ngờ. Họ kể lại là người ta mua hết để nấu cao khỉ, và co`n chở xuống Sàigon Chợ lớn gi` đó bán cho Cắc chú ăn óc khỉ sống. Nghe nói bổ lắm.
Có người lại tả rõ ràng y như anh ta đã từng vào nhà hàng: “Con khỉ sống bị trói ngồi dưới gầm bàn có phủ khăn trắng, chỉ tho` cái sọ lên. Khách ăn lấy búa hay dao bén cắt ngang sọ khỉ như ta vạc trái dừa non, rắc muối tiêu lên, vắt chanh vào rồi lấy muỗng múc ăn như ăn tàu hũ. Không biết lúc đó miệng con khỉ có bị dán băng keo không, nếu không chắc nó kêu thét lên ai nghe thấy mà không ớn.
Bị một vố nặng quá, đàn khỉ co`n lại rút sâu vô rừng, không biết chừng nào mới dám ló ra. Chúng tôi để lại vài con khỉ để nuôi chơi, nhưng nó phá phách và dơ dáy quá, lại hao thêm đồ ăn, nên mấy dân nhậu hè nhau đập chết một con, nhúng nước sôi , cạo lông rồi thui như thui chó. Con khỉ co`n lại, nhi`n thấy vậy kêu khóc thảm thiết quá, và nếu có ai tới gần, nó chắp tay như lạy trông rất tội nghiệp.
Con khỉ khi cạo sạch lông, trông không khác gi` thân thể một đứa bé, giống từ đầu cổ, chân tay, cho tới cả cơ quan sinh dục. Tôi nhi`n mà lo`ng kinh sợ, và cả ngày không dám mon men đến gần đám nhậu.
Đêm hôm đó, thao thức không ngủ được, tôi len lén ra cởi dây cho con khỉ rồi xua đuổi nó chạy vào rừng. Quên đi rằng cả bọn chúng nó đã cướp không, mồ hôi và sức lực của biết bao người.
Ăn Trộm Vịt
Con vịt coi vậy mà gần gũi với bữa ăn của người dân quê miền Nam hơn là con gà. Món gi` thịt gà làm được, thi` thịt vịt cũng không thua, mà có khi hơn hẳn. Thí dụ món tiết canh, ta chỉ có món tiết canh vịt, chớ chưa hề thấy ai ăn tiết canh gà bao giờ. Biết sao không? Đàn ông mà ăn tiết canh gà, đêm đêm sẽ xửng cồ gáy, làm phiền lòng vợ, có khi bị bả đạp xuống gầm giường, rồi nói sao xui!Người Việt mi`nh khiêm nhượng lắm, cứ cái gi` nhỏ thi` nhận là của mi`nh, co`n cái gi` to lớn một chút thi` cho rằng của nước ngoài: Con Vịt Xiêm (con ngan Thái Lan) to gấp hai con vịt ta. Trái mãng cầu ta lớn bằng nắm tay mà trái mãng cầu xiêm lớn như trái dừa. Trái chuối Tây cũng lớn hơn trái chuối cau của ta. Mà chưa chắc gi` trái chuối lớn đó là chuối Tây, vi` ở bên Tây lạnh quá như vậy dễ gi` chuối sống nổi, ngay cả nước Tàu kế bên VN như vậy mà cây chuối còn đèo đọt không lên nổi vi` lạnh mà.Hồi xưa vịt đàn toàn là vịt sẻ màu nâu xám, mỗi con nặng chừng hơn ký lô, nhưng bây giờ vịt đàn gọi là vịt Bắc Kinh màu trắng và to như vịt bầu nhưng cổ cao hơn một chút.Con gà trống thi` khác gà mái rất nhiều, nhi`n thấy ảnh là biết ngay, từ dáng to lớn đi nghênh ngang, đến đuôi cong vo`ng, mào đỏ chót, chân có cựa và lông vũ đẹp đẽ, còn vịt thi` lại khác, đực cái gi` chúng cũng giống nhau quá. Con đực giọng khàn khàn và chỉ có thể nhận ra anh ta là vi` ở ngay phao câu có một cái lông cong tro`n lên như chữ C. Nếu nhổ nó đi thi` chỉ vài ngày sau lại mọc lên cộng lông mới cũng cong y chang như vậy.Làm thịt vịt chỉ ngán một nỗi là khi mi`nh nhổ lông nó, nhứt là khi mua nhằm con vịt đang ra lông măng, nhổ muốn chết cha luôn. Muốn làm lông vịt cho dễ, người ta bỏ vô nồi nước sôi chút xà bông bột, nó sẽ làm tan chất dầu nhờn ở lông và da con vịt thi` dễ nhổ hơn. Khi vừa cắt tiết xong, lấy ống đu đủ nhỏ hay ống trúc luồn vô dưới da mà thổi cho con vịt căng lên to như con ngỗng, lấy dây cột cổ lại cho khỏi xi` hơi ra, lúc đó làm lông còn dễ hơn nữa.Trước khi kể chuyện về cách ăn trộm vịt giữa ban ngày, của bọn con nít rắn mắt, tôi xin nói về cái tỉn nước mắm cái đã.Khoảng đầu thập niên 60 người ta vẫn còn xài cái tỉn làm bằng đất nung để đựng nước mắm, hồi đó bi`nh bằng ny-lon chưa được phổ biến nhiều. Đó là đồ đựng hi`nh quả trám, nặng chi`nh chịch mà sức chứa chưa tới 4 lít . Khi đổ đầy nước mắm vô rồi thi` nhà thùng dùng xi măng mà khằn cái miệng lại. Tuy nhiên nước mắm vẫn rỉ ra hôi ri`nh. Đã thế chung quanh cái tỉn lại dùng lá kè non mà ràng làm quai xách coi rất bê bối. Khi mi`nh xài hết nước mắm rồi, mấy cái tỉn bị vất lăn lóc ngoài sau hè. Lâu lâu có cái xe đap ràng cần-xé hay ghe đi mua lông vịt thi` mua tỉn luôn. Có khi họ không trả bằng tiền mà chỉ đổi cốm ngào đường mà thôi. Họ đạp xe khắp hang cùng ngõ hẻm hoặc bơi xuồng trong các kinh rạch và rao:-Ai có ve chai, nhôm bể, lu, lông vịt, hột gòn .... đổi cốm hông???Khi nước lụt dâng lên ban đêm, thường thi` mấy cái tỉn bị trôi theo giòng nước. Cho dù giòng nước chảy khá mạnh, nhưng vi` hi`nh thể của cái tỉn tro`n tro`n, nó cứ trôi lắc lư từ từ, nên người ta có câu: “Đủng đỉnh như cái chỉnh trôi sông.” để tả con người làm gi` cũng chậm chạp, không xốc vác chút nào.Miền Bắc gọi cái tỉn là cái chĩnh, như trong câu: “Chuột sa chĩnh gạo.” Trong khi người Nam thì lại nói: “Chuột sa hũ nếp.”Sở dĩ tôi phải dài dòng về cái tỉn nước mắm là vi` đó là dụng cụ để ăn trộm vịt.Nếu đàn vịt mà co`n đang ăn trên đồng cạn nước thi` vô phương bắt nó. Người lạ đến gần thi` cả đàn chạy dạt ra xa và kêu cạc cạc ầm lên. Anh chàng chăn vịt vác cái sào tre lại đứng trên bờ ruộng thi` làm sao bắt trộm cho được.Phải đợi bầy vịt ra con kinh đào hoặc sông nhỏ mới ra tay được.Lên phía trên giòng nước chảy, cột vô cái tỉn đã múc nước gần đầy, chỉ nổi phập phờ, một sợi dây nhợ dài như dây diều. Ngay quai xách lại móc hai lưỡi câu có mồi cua hay cá. Cái tỉn được thả trôi xuống phía bầy vịt.Anh chàng chăn vịt giữa trưa nắng chang chang, nóng thấy ông bà ông vải nên chui vô bóng mát dưới rặng trâm bầu. Anh nằm dài lấy cái nón lá ngửa ra kê đầu, mắt hấp háy nhìn trời và chân thi` gác tréo ngoe, vừa nhịp nhịp vừa hát:"Sương thu lạnh bao trùm khắp nẻo"Trăng đêm nay diù dịu cả không gian"Tôi với em đi gánh nước cạnh đi`nh làng"Mùi cỏ dại mơ màng trong đêm vắng .....""Nước giếng trong giữa đồi cát trắng"Bên ánh nguyệt mờ soi đôi bóng giao kề"Dưới trăng khuya tôi với em quảy gánh ra về ......"Anh đang mơ màng cái cảnh đi gánh nước với em, thi` hai con vịt của anh ăn nhằm lưỡi câu, nó giằng qua giựt lại làm cái tỉn chao đi và nước tràn vô đầy tỉn. Cái tỉn chìm xuống và với sức nặng đó, nó kéo cổ hai con vịt xuống theo tới dưới đáy sông và neo luôn ở đó.Trong khi anh chủ của nó thi` đang rướn cổ lên để ca một câu mùi tận mạng:"Ba năm sau, tui trở về quê cũ, gánh nước đêm trăng để ti`m lại kẻ chung ... ti`nh ...""Quảy gánh lên vai tôi thờ thẩn một mi`nh ..."Anh nhỏm đầu nhi`n đàn vịt, lấy nón lá rách đội lên rồi vác cái sào dài "thờ thẫn" đi theo đàn vịt, vi` chúng không khi nào chịu ăn hoài một chỗ, chừng năm mười phút sau nó đã kéo nhau đi xa cả mấy công ruộng, và anh chăn vịt lại lững thững theo sau, không biết rằng có hai con vịt của anh đầu đang cắm xuống, đít nhổng lên trời, chết mà không kêu lên được một hai tiếng cạc cạc từ giã cõi đời.Trên cánh đồng mênh mông, giọng hát buồn thoảng theo làn gió:"Ho` ơi ! Ai phụ tôi có đất trời chứng giám"Phận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng ai"Tưởng cái giếng sâu tôi nối sợi dây dài"Ngờ đâu giếng cạn .."Ho` ơi .. ngờ đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây !!"Chờ anh chăn vịt khuất dạng, bọn ăn trộm mới phăng theo sợi dây mà lấy hai con vịt dồn vô bao , thong thả xách về làm thịt để nhậu chơi.
Tân Ngố (làng Năm)
Tháng 8 năm 2004
Bản Gánh Nước Đêm TrăngSáng tác: Viễn Châu ---
Tri`nh bày bởi: ... Mầm non Văn nghệ Tân NgốSương thu lạnh bao trùm khắp nẻoTrăng đêm nay diù dịu cả không gianTôi với em đi gánh nước cạnh đi`nh làngMùi cỏ dại mơ màng trong đêm vắngNuớc giếng trong giữa đồi cát trắngBên ánh nguyệt mờ soi đôi bóng giao kề ....Dưới trăng khuya tôi với em quảy gánh ra vềGiữa không trung tiếng sáo diù khoan nhặtNhư tiếng hẹn ho` của đôi mảnh ti`nh quêEm trước tôi sau hai đứa bước mau đi giữa đường mònĐôi ta vẫn lưu luyến nhau khi đến ngã ba đườngLà chỗ chia tay để trở về xóm nhỏCuối năm ấy tôi phải đi làm ở nơi rừng xa núi thẳmTrước khi ra đi tôi còn căn dặn em rằng:Em có thương anh thi` em đừng vội lấy chồngTôi sẽ ra đi miền viễn xứQuê người xin giữ dạ chờ mongGi`n lo`ng hai chữ nghĩa nhânYêu ai yêu chỉ một lần mà thôiEm cười em bảo với tôiThề có đất trời em không phụ anh đâuĐêm sau chờ em đi gánh nước tôi đón tại ngã ba đuờng dưới rặng mù uTôi không nói được nửa câu vi` vừa toan mở lời từ biệtThi` đôi mắt em đã rưng rưng do`ng lệTôi vội lấy khăn tay lau ra nước mắt và gánh hộ cho emđi một đổi đường gọi là lần cuối cùng giúp đỡ cho nhauKhăn tay tôi cất đem theoCo`n in nước mắt bạn nghèo năm xưaQuê người dãi nắng dầm mưaLàm sao quên kẻ sớm trưa đợi chờTôi đã về đây bên giếng xưaTrời cao vằng vặc bóng trăng thềBa năm xa cách em nào nhớ kẻ ở phương trời chịu nắng mưaBa năm sau tôi trở về quê cũGánh nuớc đêm trăng để ti`m lại kẻ chung ti`nh ...Quảy gánh lên vai tôi thờ thẩn một mi`nhNước giếng trong leo lẻo soi rỏ bóng hi`nh tiều tụy của tôiTiếng gà đã gáy sang canh,Trăng mười tám đã nhô lên khỏi đầu khóm trúcTôi ngồi khoanh tay bên đôi gàu nướcLo`ng bâng khuâng nên chưa vội bước chân vềNước giếng trong như mối ti`nh trong trắngTự ngày xưa thệ chẳng phai mờCớ sao em vội bước sang ngang không đợi không chờChồng của em ở miền đô thị lại là người tốt mã giàu sangCòn tôi thi` mặt nám da đen bởi mưa nắng của rừng sâu núi thẳmSau ba năm tôi trở về quê với hai bàn tay trắngBiết bán cho ai mua một tấm chung ti`nhHo` ơi, ai phụ tôi có đất trời chứng dámPhận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng aiTuởng giếng sâu tôi nối sợi giây dàiHo` ơi, hay đâu giếng cạn, tôi tiếc hoài sợi giâyTrăng ơi trăng sáng làm chi khi lo`ng tôi đang u tốiNước giếng sâu trong vắt sao ti`nh ai kia như vũng nước trong bùnĐêm nay dưới ánh trăng khuya tôi lại thẩn thờ ra đi gánh nướcNgồi trên bờ giếng một mi`nhCó ai giải mối hận ti`nh cho tôi
Tân Ngố (làng Năm)
Tháng 8 năm 2004
Bản Gánh Nước Đêm TrăngSáng tác: Viễn Châu ---
Tri`nh bày bởi: ... Mầm non Văn nghệ Tân NgốSương thu lạnh bao trùm khắp nẻoTrăng đêm nay diù dịu cả không gianTôi với em đi gánh nước cạnh đi`nh làngMùi cỏ dại mơ màng trong đêm vắngNuớc giếng trong giữa đồi cát trắngBên ánh nguyệt mờ soi đôi bóng giao kề ....Dưới trăng khuya tôi với em quảy gánh ra vềGiữa không trung tiếng sáo diù khoan nhặtNhư tiếng hẹn ho` của đôi mảnh ti`nh quêEm trước tôi sau hai đứa bước mau đi giữa đường mònĐôi ta vẫn lưu luyến nhau khi đến ngã ba đườngLà chỗ chia tay để trở về xóm nhỏCuối năm ấy tôi phải đi làm ở nơi rừng xa núi thẳmTrước khi ra đi tôi còn căn dặn em rằng:Em có thương anh thi` em đừng vội lấy chồngTôi sẽ ra đi miền viễn xứQuê người xin giữ dạ chờ mongGi`n lo`ng hai chữ nghĩa nhânYêu ai yêu chỉ một lần mà thôiEm cười em bảo với tôiThề có đất trời em không phụ anh đâuĐêm sau chờ em đi gánh nước tôi đón tại ngã ba đuờng dưới rặng mù uTôi không nói được nửa câu vi` vừa toan mở lời từ biệtThi` đôi mắt em đã rưng rưng do`ng lệTôi vội lấy khăn tay lau ra nước mắt và gánh hộ cho emđi một đổi đường gọi là lần cuối cùng giúp đỡ cho nhauKhăn tay tôi cất đem theoCo`n in nước mắt bạn nghèo năm xưaQuê người dãi nắng dầm mưaLàm sao quên kẻ sớm trưa đợi chờTôi đã về đây bên giếng xưaTrời cao vằng vặc bóng trăng thềBa năm xa cách em nào nhớ kẻ ở phương trời chịu nắng mưaBa năm sau tôi trở về quê cũGánh nuớc đêm trăng để ti`m lại kẻ chung ti`nh ...Quảy gánh lên vai tôi thờ thẩn một mi`nhNước giếng trong leo lẻo soi rỏ bóng hi`nh tiều tụy của tôiTiếng gà đã gáy sang canh,Trăng mười tám đã nhô lên khỏi đầu khóm trúcTôi ngồi khoanh tay bên đôi gàu nướcLo`ng bâng khuâng nên chưa vội bước chân vềNước giếng trong như mối ti`nh trong trắngTự ngày xưa thệ chẳng phai mờCớ sao em vội bước sang ngang không đợi không chờChồng của em ở miền đô thị lại là người tốt mã giàu sangCòn tôi thi` mặt nám da đen bởi mưa nắng của rừng sâu núi thẳmSau ba năm tôi trở về quê với hai bàn tay trắngBiết bán cho ai mua một tấm chung ti`nhHo` ơi, ai phụ tôi có đất trời chứng dámPhận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng aiTuởng giếng sâu tôi nối sợi giây dàiHo` ơi, hay đâu giếng cạn, tôi tiếc hoài sợi giâyTrăng ơi trăng sáng làm chi khi lo`ng tôi đang u tốiNước giếng sâu trong vắt sao ti`nh ai kia như vũng nước trong bùnĐêm nay dưới ánh trăng khuya tôi lại thẩn thờ ra đi gánh nướcNgồi trên bờ giếng một mi`nhCó ai giải mối hận ti`nh cho tôi
Quê Cũ
Năm tám tuổi, tôi theo mẹ rời Dầu Tiếng trên chiếc xe đo` cũ rích, lo`ng nghẹn ngào vi` không chắc có ngày về lại nơi tôi được sinh ra và lớn lên, có biết bao bạn bè, với những tro` chơi co`n đang bỏ dở. Sẽ chẳng bao giờ co`n nhi`n lại đươc ngôi trường tiểu học và cô giáo Lê của tôi, đẹp nhất làng, nhất quận (Không biết bây giờ cô trôi dạt nơi đâu ?).
Về tới Rạch Giá, mấy anh em tôi ngơ ngẩn nhớ tới rừng cao su bạt ngàn, nhớ những con đường thẳng tắp trải đá đỏ, nhớ ngôi nhà thờ Công Giáo ở làng Bốn và làng Sáu có qủa chuông trên tháp chuông cao vút. Ngôi giáo đường làng Bốn nằm cùng dẫy với nhà làng và ngôi chùa Phật mái cong, có ông thiện ông ác mà bọn trẻ con rất sợ khi chạy ngang qua đây những hôm tối trời. Lạ một điều là tuy trong làng có rất nhiều giếng xây, nhưng cái giếng gần chùa bao giờ cũng trong, cũng ngọt nhất. Mọc rải rác trong làng, có những cây gõ lớn cả mười người ôm không giáp, cây cầy, cây sao đá cao vút xanh tươi.
Ngoài vườn cao su, ong đóng mật mỗi mùa hoa, đến sau lễ Giáng sinh thi` lá vàng rụng đầy đất. Khi trái rụng thi` nổ lốp bốp văng hột to bằng ngón chân cái ra khắp nơi. Chúng tôi thường đi hốt từng thùng sắt tây bán cho người ta làm xà bông vi` hột này rất béo.
Ở Rạch Giá đồng ruộng thẳng cánh co` bay, mênh mông phẳng li` không biết đâu là bờ bến, chung quanh nhà chỉ có ít bụi chuối, vài vồng khoai lang. Đêm đêm cá lóc táp oàm oạp nơi ao đià càng làm chúng tôi nhớ về làng cũ với cây cao bóng cả.
Sau này lớn lên, đi đó đi đây nhiều, mỗi lần nghe tôi nói là mi`nh gốc gác ở Dầu Tiếng, là người ta lại đề cập tới sốt rét ngã nước, tới Su-Bi-Giăng đánh đập công nhân cao su, tới cuộc sống nghèo nàn của người dân vùng này. Bây giờ đã gần nửa thế kỷ trôi qua, tôi kể lại chuyện xưa không với mục đích bênh vực hay ca tụng những chủ nhân người Pháp của hãng Michelin, chỉ mong ước rằng cuộc sống người dân bây giờ nếu không hơn, thi` ít nhất cũng bằng những ngày cách đây 50 năm.
Má tôi là người Bắc, nhưng ba tôi là người miền Nam. Ngày co`n sống, ông là thầy Su của làng Năm, chúng tôi được ở hai căn nhà xây lợp ngói, co`n người công nhân bi`nh thường thi` ở một căn. Ngoài tiền lương, dân làng co`n được lãnh gạo, cá khô hàng tháng, rau thi` hàng tuần, thỉnh thoảng mới có thịt cá. Mỗi chúa nhựt, có xe cam nhông của hãng đưa rước dân đi lễ và đi chợ ngoài thị trấn Dầu Tiếng, ngày thường thi` có thể mướn xe ngựa để đi xa.
Các anh chị tôi thường đi chợ quận và mua về những bản nhạc mới như:
"Mây bay qua, ánh trăng chiếu dần vào rung đồng bao la
Nghe xa xa mấy câu hát vọng từ đầu thôn đưa về."
Đôi khi họ co`n mua về những tập mỏng gồm bài ca cổ nhạc, có một bản kể chuyện ti`nh của thầy giáo làng với cô thôn nữ: "Tiếng Trống Trường Làng". Dù đã hơn bốn mươi năm qua, nhưng tôi vẫn co`n nhớ ít đoạn :
… Hàng phượng chẳng trổ hoa đứng lặng lẽ bơ thờ. Bướm chẳng nhởn nhơ, chim không buồn ca hót. Tiếng ê a của học tro` như chi`m lặng trong không gian. Tiếng gõ thước trên bàn như chôn vùi niềm dĩ vãng. Chỉ có những chiếc lá vàng thi nhau rơi lả tả. Như khóc như than cho một kiếp duyên ti`nh.
… Sáng nay có một thiếu phụ dẫn con tới trường xin học, nhà giáo mới gỡ kiếng ra nhi`n. Thi` ô kià, rõ ràng là người đẹp của thuở nào. Thiếu phụ mới bỡ ngỡ thưa rằng: Dạ thưa thầy, đây là một đứa trẻ mất cha, xin thầy dậy và ban cho nó một chút ti`nh phụ tử.
Như suy nghĩ rồi, từ từ thầy lại gật đầu....
Bài vọng cổ này không biết có giống một chuyện ti`nh nào đã xảy ra ở trong làng hay không, nhưng trai gái thi nhau hát, đến nỗi một đứa nhỏ như tôi nghe riết, rồi cũng đâm thuộc lo`ng. Có lẽ người ta thích, vi` ngôi trường tiểu học cũng có hàng phượng vĩ đỏ ối mỗi độ hè về, có tiếng thước gõ trên bàn và những hồi trống tan trường.
Trong các trường làng, chỉ dậy đến lớp ba, nhưng làng Sáu có trường Bà Phước dậy tới lớp nhứt. Ngoài chợ quận mới có trường trung học tư thục. Mãi sau này mới thấy mở thêm một trường Bán Công.
Từ ngày có trí khôn, tôi chưa thấy ba tôi đánh một công nhân nào, ngay cả chưởi bới cũng không. Sau này tôi có hỏi má tôi về vấn đề này, bà nói rằng trong những buổi điểm danh bắt uống thuốc ký ninh để ngừa sốt rét, ai không uống mà lén nhổ đi vi` thuốc đắng thi` bị tát tai liền. Những công nhân từ xa tới, nhất là từ miền Bắc xa xôi, hầu hết là dân độc thân, họ thường dễ lậm vào những tật xấu như bài bạc rượu chè đĩ điếm, nếu cảnh cáo mà co`n tái phạm thi` bị đánh bằng roi. Nếu không thi hành kỷ luật thép, thi` sẽ sinh ra loạn ngay, nhưng những hi`nh phạt này cũng ít khi xẩy ra.
Người ta thường nói, hoặc viết về Bi`nh Dương thi` hầu hết là tả về tỉnh lỵ -Thị trấn Thủ Dầu Một- và những người ở vùng khác lại càng không biết nhiều về một quận lỵ tên là Dầu Tiếng nằm xa lắc xa lơ đó. Vậy tôi xin kể sơ:
Hãng Michelin kéo dài từ Bo (Port) cho đến gần Thị Tính và Bến Cát, có từ làng Một cho đến làng 26, mỗi làng cách nhau vài ba cây số. Vườn cao su vây bọc quanh làng được gọi là lô. Những làng lớn như làng Một, làng Bốn, làng Sáu đều có nhà thờ, chùa chiền, trường học, nhà làng , nhà sẹc (CLB thể thao). Sân đá banh, pho`ng thông tin. Riêng làng Sáu, có một nhà thương rất lớn, có đầy đủ bác sĩ, y tá và thuốc men để điều trị miễn phí cho toàn thể gia đi`nh công nhân. Những bà mẹ mới sanh con đều được lãnh thưởng và có xuất gạo hằng tháng để nuôi đứa bé này. Mỗi nhà đều có vườn rau và cây ăn trái bao bọc quanh nhà. Nhà được hãng xây theo hàng lối, lợp ngói, có cống rãnh thoát nước, bếp cách xa nhà khoảng mười thước, và đường trong làng rộng rãi có trải đá đỏ. Nhà nào cũng có mấy chiếc xe đạp, thỉnh thoảng cũng có nhà sắm được xe Mô By Lét. Các cô gái có vàng đeo nhỏng nhảnh, co`n thanh niên đeo đồng hồ Guy Le.
Thẩm mỹ thời ấy phải theo câu:
-Cặp rằn mũ phớt quần tây
Đồng hồ xe máy, mấy cây răng vàng.
Trai gái tán tỉnh nhau thi` hát:
- Chiều chiều ra đứng ngóng bên bờ sông, trông chim trời từng đàn, bay về phía xa xa , xui lòng thương nhớ bao người trai. Chim ơi cho ta nhắn đôi lời, một lời mà thôi, về phía xa xôi .. ...
Đó là hát tân nhạc, co`n về cổ nhạc thi` họ hát như sau:
-Bước sang canh một anh đốt ngọn đèn vàng.
Chờ con bạn ngọc thở than đôi lời.
Canh hai nguyệt đổi sao dời.
Tính sao thời tính cho trọn lời thủy chung.
Canh ba cờ phất trống rung, mặc ai, ai dãn ai dùng mặc ai.
Canh tư hạc đậu nhành mai, sương sa lớp lớp biết ai mà chờ.
Canh chầy thơ thẩn, thẩn thơ.
Đêm mơ thấy bậu, dậy rờ chiếu không.
Cuộc sống vui vẻ đó tan tành trong cuộc chiến. Đường bộ đi lên Dầu Tiếng thường bị đắp mô, co`n đường sông thi` khi nào có Hải Quân hộ tống ghe tàu mới dám đi, nhưng cũng rất nguy hiểm vì B40 từ bên bờ bắn ra, bom từ trên trời rơi xuống vi` bị nghi là đoàn tàu tiếp tế cho đối phương. Những trận đánh ở Dầu Tiếng và Bến Súc còn ghi lại nỗi kinh hoàng trên nét mặt người dân.
Tôi trở về quê xưa sau hơn ba mươi năm, lòng quặn thắt khi thấy không co`n lại gi` là dấu vết của làng xưa, dù chỉ một viên gạch hay một miếng ngói bể, chị tôi và các cháu sống trong một túp lều nhỏ như cái chuồng gà.
Rồi mãi đến mùa hè năm hai ngàn, tôi dẫn cả bầu đoàn thê tử về thăm lại làng Năm, chị tôi đã xây đựơc nhà, nền lót gạch bông, có TV và một cái xe Honda đậu trước cửa. Khi về ngang qua Thủ Dầu Một, tôi ở lại nhà Năm Tèo mấy ngày (Có lẽ những người ở Bi`nh Dương không lạ gi` Thằng Năm Pít Tông). Tôi cũng mừng khi thấy em mi`nh thành công nhờ đôi tay tài ti`nh và lòng yêu nghề thợ tiện cùng sự chăm chỉ làm ăn. Nhi`n thấy cơ sở của thằng Năm, tôi nghĩ mi`nh qua Mỹ đã hai mươi năm rồi mà có hơn gi` nó? Nhưng tôi vẫn cố gắng xin đưa nó đi Mỹ du lịch một chuyến, vi` biết chắc rằng với trí thông minh của nó, nó sẽ học hỏi được rất nhiều trong chuyến đi này.
Về tới Rạch Giá, mấy anh em tôi ngơ ngẩn nhớ tới rừng cao su bạt ngàn, nhớ những con đường thẳng tắp trải đá đỏ, nhớ ngôi nhà thờ Công Giáo ở làng Bốn và làng Sáu có qủa chuông trên tháp chuông cao vút. Ngôi giáo đường làng Bốn nằm cùng dẫy với nhà làng và ngôi chùa Phật mái cong, có ông thiện ông ác mà bọn trẻ con rất sợ khi chạy ngang qua đây những hôm tối trời. Lạ một điều là tuy trong làng có rất nhiều giếng xây, nhưng cái giếng gần chùa bao giờ cũng trong, cũng ngọt nhất. Mọc rải rác trong làng, có những cây gõ lớn cả mười người ôm không giáp, cây cầy, cây sao đá cao vút xanh tươi.
Ngoài vườn cao su, ong đóng mật mỗi mùa hoa, đến sau lễ Giáng sinh thi` lá vàng rụng đầy đất. Khi trái rụng thi` nổ lốp bốp văng hột to bằng ngón chân cái ra khắp nơi. Chúng tôi thường đi hốt từng thùng sắt tây bán cho người ta làm xà bông vi` hột này rất béo.
Ở Rạch Giá đồng ruộng thẳng cánh co` bay, mênh mông phẳng li` không biết đâu là bờ bến, chung quanh nhà chỉ có ít bụi chuối, vài vồng khoai lang. Đêm đêm cá lóc táp oàm oạp nơi ao đià càng làm chúng tôi nhớ về làng cũ với cây cao bóng cả.
Sau này lớn lên, đi đó đi đây nhiều, mỗi lần nghe tôi nói là mi`nh gốc gác ở Dầu Tiếng, là người ta lại đề cập tới sốt rét ngã nước, tới Su-Bi-Giăng đánh đập công nhân cao su, tới cuộc sống nghèo nàn của người dân vùng này. Bây giờ đã gần nửa thế kỷ trôi qua, tôi kể lại chuyện xưa không với mục đích bênh vực hay ca tụng những chủ nhân người Pháp của hãng Michelin, chỉ mong ước rằng cuộc sống người dân bây giờ nếu không hơn, thi` ít nhất cũng bằng những ngày cách đây 50 năm.
Má tôi là người Bắc, nhưng ba tôi là người miền Nam. Ngày co`n sống, ông là thầy Su của làng Năm, chúng tôi được ở hai căn nhà xây lợp ngói, co`n người công nhân bi`nh thường thi` ở một căn. Ngoài tiền lương, dân làng co`n được lãnh gạo, cá khô hàng tháng, rau thi` hàng tuần, thỉnh thoảng mới có thịt cá. Mỗi chúa nhựt, có xe cam nhông của hãng đưa rước dân đi lễ và đi chợ ngoài thị trấn Dầu Tiếng, ngày thường thi` có thể mướn xe ngựa để đi xa.
Các anh chị tôi thường đi chợ quận và mua về những bản nhạc mới như:
"Mây bay qua, ánh trăng chiếu dần vào rung đồng bao la
Nghe xa xa mấy câu hát vọng từ đầu thôn đưa về."
Đôi khi họ co`n mua về những tập mỏng gồm bài ca cổ nhạc, có một bản kể chuyện ti`nh của thầy giáo làng với cô thôn nữ: "Tiếng Trống Trường Làng". Dù đã hơn bốn mươi năm qua, nhưng tôi vẫn co`n nhớ ít đoạn :
… Hàng phượng chẳng trổ hoa đứng lặng lẽ bơ thờ. Bướm chẳng nhởn nhơ, chim không buồn ca hót. Tiếng ê a của học tro` như chi`m lặng trong không gian. Tiếng gõ thước trên bàn như chôn vùi niềm dĩ vãng. Chỉ có những chiếc lá vàng thi nhau rơi lả tả. Như khóc như than cho một kiếp duyên ti`nh.
… Sáng nay có một thiếu phụ dẫn con tới trường xin học, nhà giáo mới gỡ kiếng ra nhi`n. Thi` ô kià, rõ ràng là người đẹp của thuở nào. Thiếu phụ mới bỡ ngỡ thưa rằng: Dạ thưa thầy, đây là một đứa trẻ mất cha, xin thầy dậy và ban cho nó một chút ti`nh phụ tử.
Như suy nghĩ rồi, từ từ thầy lại gật đầu....
Bài vọng cổ này không biết có giống một chuyện ti`nh nào đã xảy ra ở trong làng hay không, nhưng trai gái thi nhau hát, đến nỗi một đứa nhỏ như tôi nghe riết, rồi cũng đâm thuộc lo`ng. Có lẽ người ta thích, vi` ngôi trường tiểu học cũng có hàng phượng vĩ đỏ ối mỗi độ hè về, có tiếng thước gõ trên bàn và những hồi trống tan trường.
Trong các trường làng, chỉ dậy đến lớp ba, nhưng làng Sáu có trường Bà Phước dậy tới lớp nhứt. Ngoài chợ quận mới có trường trung học tư thục. Mãi sau này mới thấy mở thêm một trường Bán Công.
Từ ngày có trí khôn, tôi chưa thấy ba tôi đánh một công nhân nào, ngay cả chưởi bới cũng không. Sau này tôi có hỏi má tôi về vấn đề này, bà nói rằng trong những buổi điểm danh bắt uống thuốc ký ninh để ngừa sốt rét, ai không uống mà lén nhổ đi vi` thuốc đắng thi` bị tát tai liền. Những công nhân từ xa tới, nhất là từ miền Bắc xa xôi, hầu hết là dân độc thân, họ thường dễ lậm vào những tật xấu như bài bạc rượu chè đĩ điếm, nếu cảnh cáo mà co`n tái phạm thi` bị đánh bằng roi. Nếu không thi hành kỷ luật thép, thi` sẽ sinh ra loạn ngay, nhưng những hi`nh phạt này cũng ít khi xẩy ra.
Người ta thường nói, hoặc viết về Bi`nh Dương thi` hầu hết là tả về tỉnh lỵ -Thị trấn Thủ Dầu Một- và những người ở vùng khác lại càng không biết nhiều về một quận lỵ tên là Dầu Tiếng nằm xa lắc xa lơ đó. Vậy tôi xin kể sơ:
Hãng Michelin kéo dài từ Bo (Port) cho đến gần Thị Tính và Bến Cát, có từ làng Một cho đến làng 26, mỗi làng cách nhau vài ba cây số. Vườn cao su vây bọc quanh làng được gọi là lô. Những làng lớn như làng Một, làng Bốn, làng Sáu đều có nhà thờ, chùa chiền, trường học, nhà làng , nhà sẹc (CLB thể thao). Sân đá banh, pho`ng thông tin. Riêng làng Sáu, có một nhà thương rất lớn, có đầy đủ bác sĩ, y tá và thuốc men để điều trị miễn phí cho toàn thể gia đi`nh công nhân. Những bà mẹ mới sanh con đều được lãnh thưởng và có xuất gạo hằng tháng để nuôi đứa bé này. Mỗi nhà đều có vườn rau và cây ăn trái bao bọc quanh nhà. Nhà được hãng xây theo hàng lối, lợp ngói, có cống rãnh thoát nước, bếp cách xa nhà khoảng mười thước, và đường trong làng rộng rãi có trải đá đỏ. Nhà nào cũng có mấy chiếc xe đạp, thỉnh thoảng cũng có nhà sắm được xe Mô By Lét. Các cô gái có vàng đeo nhỏng nhảnh, co`n thanh niên đeo đồng hồ Guy Le.
Thẩm mỹ thời ấy phải theo câu:
-Cặp rằn mũ phớt quần tây
Đồng hồ xe máy, mấy cây răng vàng.
Trai gái tán tỉnh nhau thi` hát:
- Chiều chiều ra đứng ngóng bên bờ sông, trông chim trời từng đàn, bay về phía xa xa , xui lòng thương nhớ bao người trai. Chim ơi cho ta nhắn đôi lời, một lời mà thôi, về phía xa xôi .. ...
Đó là hát tân nhạc, co`n về cổ nhạc thi` họ hát như sau:
-Bước sang canh một anh đốt ngọn đèn vàng.
Chờ con bạn ngọc thở than đôi lời.
Canh hai nguyệt đổi sao dời.
Tính sao thời tính cho trọn lời thủy chung.
Canh ba cờ phất trống rung, mặc ai, ai dãn ai dùng mặc ai.
Canh tư hạc đậu nhành mai, sương sa lớp lớp biết ai mà chờ.
Canh chầy thơ thẩn, thẩn thơ.
Đêm mơ thấy bậu, dậy rờ chiếu không.
Cuộc sống vui vẻ đó tan tành trong cuộc chiến. Đường bộ đi lên Dầu Tiếng thường bị đắp mô, co`n đường sông thi` khi nào có Hải Quân hộ tống ghe tàu mới dám đi, nhưng cũng rất nguy hiểm vì B40 từ bên bờ bắn ra, bom từ trên trời rơi xuống vi` bị nghi là đoàn tàu tiếp tế cho đối phương. Những trận đánh ở Dầu Tiếng và Bến Súc còn ghi lại nỗi kinh hoàng trên nét mặt người dân.
Tôi trở về quê xưa sau hơn ba mươi năm, lòng quặn thắt khi thấy không co`n lại gi` là dấu vết của làng xưa, dù chỉ một viên gạch hay một miếng ngói bể, chị tôi và các cháu sống trong một túp lều nhỏ như cái chuồng gà.
Rồi mãi đến mùa hè năm hai ngàn, tôi dẫn cả bầu đoàn thê tử về thăm lại làng Năm, chị tôi đã xây đựơc nhà, nền lót gạch bông, có TV và một cái xe Honda đậu trước cửa. Khi về ngang qua Thủ Dầu Một, tôi ở lại nhà Năm Tèo mấy ngày (Có lẽ những người ở Bi`nh Dương không lạ gi` Thằng Năm Pít Tông). Tôi cũng mừng khi thấy em mi`nh thành công nhờ đôi tay tài ti`nh và lòng yêu nghề thợ tiện cùng sự chăm chỉ làm ăn. Nhi`n thấy cơ sở của thằng Năm, tôi nghĩ mi`nh qua Mỹ đã hai mươi năm rồi mà có hơn gi` nó? Nhưng tôi vẫn cố gắng xin đưa nó đi Mỹ du lịch một chuyến, vi` biết chắc rằng với trí thông minh của nó, nó sẽ học hỏi được rất nhiều trong chuyến đi này.
Subscribe to:
Posts (Atom)